Mùa hè năm Tân Hợi, 1971, tôi được lên học lớp 8H, trường Phổ thông Cấp III Đô Lương I, Nghệ An.
Tôi thuộc nhóm Bài Sơn- nay là xã Lương Sơn - gồm năm trai, hai gái. Riêng tôi là con cán bộ cấp thấp và mẹ là công nhân giữ trẻ cho Lâm nghiệp.
Ở xã Thịnh Sơn - quê nội của anh chị em chúng tôi - cũng có một nhóm bạn cả trai lẫn gái. Nay xã nhà là một phần của xã Đô Lương.
Nhà cha mẹ bạn trai tôi gần Lâm nghiệp nhất nằm trên đường liên hương ra Quốc lộ 7 là nhà cụ Dương Trọng Kiều. Cha tôi và ông Kiều quen biết nhau. Cha tôi vừa nghỉ hưu. Ông Kiều có lẽ còn làm việc dăm bẩy năm nữa.
Đăng là con thứ hai của ông bà Kiều. Cậu ta cũng thấp nhỏ như tôi. Có một nốt ruồi mép trên bên trái.
Mấy đứa nhỏ bé xếp ngồi bàn đầu. Bắc Hồng ở cuối xã nhà mạn Nam của Thịnh Sơn bên trái. Tôi ngồi giữa. Đăng bên phải. Ghế gỗ đa phần là ọp ẹp. Mùa rét thường phải tự run cho đỡ lạnh.
Có lần Đăng đọc:
- Ghế thì ghế lò xo
Vinh với Bắc ngồi co.
Vinh thì nói không cho,
Bắc thì nói không cho cũng nhún !
Lần khác, Đăng bảo tôi là " Thính Khắc Vai". Tôi liền bảo bạn ấy là Dê Nặng Đèn. Một hôm bạn ấy ghi vào vở nháp của tôi:
- Thái Khắc Vinh
8H,
Tát cá,
Rã hư...
Lừ khừ,
Bị phạt.
Phạt nặng !
Năm đồng.
Vinh về mủi lòng...
Nước mắt lưng tròng.
Chuyện đùa nghịch còn nhiều. Nhưng nhớ nhất là một chuyến cha tôi bảo mua một bầy vịt choai về chăn. Mùa hè Nhâm Tí 1972. Trưa nắng, ghé vào nhà bạn. Đăng hỏi:
- Sao lại mua 34 con ?
- Tôi nói:
- Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân lúc đầu cũng chỉ có 34 chiến sĩ.
Ngày ấy hình như nhà nào cũng còn nghèo. Đến nhà các bạn hầu như chỉ uống nước. Ít khi có ai mời ai ở lại dùng bữa. Nói chuyện một lát rồi ra về. Nhà cha mẹ tôi ở Lâm nghiệp xa xôi nên thường ở trọ. Các bạn chẳng biết đâu mà đến !
Ít tháng sau, thời bom Mĩ ném xuống nước ở đập Đá Bàn. Tôi và Đăng cùng nghỉ hè. Tôi bị bệnh phải nằm viện Minh Sơn. Tình cờ đã thấy Đăng ở đó. Tôi được điều trị khoảng một tuần.
Thời chiến, hai thằng trẻ trai có nhiều chuyện tếu táo không kể xiết.
Về sau, Đăng nhập ngũ Giáp Dần, 1974, rèn luyện, công tác, chiến đấu rồi hi sinh tại Hà Tiên. Trước thuộc Kiên Giang, nay là An Giang.
Còn tôi, nhập ngũ 23/02/1975 mùa Xuân Ất Mão. Vì tôi trẻ hơn Đăng một tuổi.
Tháng Ba, Quý Hợi, 1983, tôi trở lại đời thường. Vật lộn với cuộc sống mãi tới nay.
(tiếp)
Người mong chớ gặp sao gặp mãi
Kẻ mỏi mòn trông chẳng thấy đâu,
Bỏ xứ đi xa, rồi từng trải
Nửa đời nuốt hận lánh công hầu.
Trích GIỚI HẠN
Thôn Văn Tâm, tháng Giêng 1996.
Ảnh tương tự Xóm Động Khô những năm 1970
Khi đó xóm nhà bạn nằm phía nam mái động Khô. Chỉ khác Bàu Vạn dùng chứa nước hơi xa. Ở bên Bàu Vạn không thường xuyên duy trì một tổ sản xuất Chăn Nuôi. Xóm có nhà Đăng nối dài dần hình thành một trại làm cây hồ tiêu và giữ rừng quen gọi Vườn Ươm. Lúc mà tôi hai lần nhập ngũ trở về có làm việc cùng cha bạn ấy cùng một số đảng viên già lãnh đạo. Thời chiến ở làng quê đa số là con gái trẻ, dăm ba cô chưa chồng. Có hai anh phục viên lớn tuổi hơn tôi.
Năm Tân Hợi, 1971, lớp 8H chúng tôi học ở dãy nhà tranh tre nứa mét tại Cửa Trộc, Yên Sơn. Mới đây sáp nhập cùng Thịnh Sơn- quê nội của chúng tôi - gọi chung là xã Đô Lương.
Thời ấy chưa cấm đốt pháo. Nhưng bắn súng diêm và ném pháo trong lớp học là không được phép. Bạn Nguyễn Công Bắc, ở hợp tác xã Tam Đồng ném một quả pháo nổ trong lớp. Giờ ra chơi, đột nhiên Bắc đốt ném làm nổ một quả pháo. Khói pháo vừa tan, thầy Dương Đình Bật, hiệu phó đi vội xuống hỏi bằng giọng miền Nam:
- Em nào chơi bắng súng ?
Tất cả các bạn còn ngồi lại trong lớp, không ra chơi bên ngoài lớp đều im re. Tôi cũng thế ! Các học sinh đều sợ hãi. Cũng không nhớ Bắc có nhận lỗi hay không và có bị dẫn lên văn phòng hay không ? Cũng không nhớ Đăng ở trong lớp hay đang chơi bên ngoài.
Lớp chúng tôi đông lắm. 53 em chênh nhau vài ba tuổi. Cứ như ngày nay đa phần xếp vào suy dinh dưỡng thể thấp còi. Lớp có bẩy bạn tên Vinh: hai gái. Về sau đôi khi tôi có gặp lại bạn Trần Văn Vinh con ông Lê - là sĩ quan công an và khi đó làm việc xa nhà- trong thoáng chốc. Chẳng mấy mặn mà . Chắc tính nết bạn ấy thế. Còn đa số các bạn hiếm lần gặp lại. Cũng vì tôi ít về quê. Mà có về cũng chỉ ở nhà em gái ruột. Không hề có xe đạp riêng nên khó xuất hành đi trong xã và xuống Hòa Sơn, nay thuộc Văn Hiến. Kể cả xã Bài Sơn, nay thuộc Lương Sơn là nơi gia đình chung của cha mẹ tôi, chúng tôi đi cửa hàng khi chưa cưới chợ Bài, cũng chẳng thấy ai trong đám bạn. Có lẽ thế hệ chúng tôi bị chiến tranh làm xáo trộn gần như đảo lộn nhiều nhất ?
Bạch Mi Nhất Điểm Hồng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét