Nghệ sĩ Thanh Điền, họ tên đầy đủ là Lê Thanh Điền,sinh ngày 4/5/1967, là con thứ tư trong gia đình 6 anh chị em, anh bị khiếm thị bẩm sinh. Trời lấy đi con mắt nhưng lại cho anh đôi tai thính nhạy và khả năng cảm âm siêu việt. Người thường học đàn đã khó, người khiếm thị học đàn còn khó gấp nhiều lần người thường. Với nghị lực phi thường anh kiên trì tập trung học đàn, thời gian đầu phải nén cái đau do ngón tay rỉ máu
Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025
Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025
NHỮNG BÀI HÁT ƯA THÍCH THỜI TUỔI TRẺ
1. Bài hát:Ты-моя Мелодия(1976). Ca sỹ:Muslim Magomayev
Bài hát "Ты-моя Мелодия" (Em là Giai điệu của Tôi) là một bản tình ca nổi tiếng của Nga. Được sáng tác vào năm 1973 bởi nhạc sĩ tài năng Alexandra Pakhmutova, lời: nhà thơ Nikolai Dobronravov.
Muslim Magomayev một trong những Ca sỹ vĩ đại nhất Liên Xô thể hiện bài hát đầu tiên:. Chính nhờ giọng hát đầy nội lực truyền cảm của ông bài hát trở nên bất hủ. Bài hát nói về nỗi nhớ nhung da diết của một người nghệ sĩ khi phải xa cách người mình yêu, ví von tình yêu như một giai điệu (мелодия) luôn vang vọng trong tâm trí.
📚 Bài viết liên quan
Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2025
BÀI THƠ DẠY CON CỦA “BÀ CHÚA THƠ NÔM”
Chuyên mục: Văn nghệ – Làng Quan Nội
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822) –quê gốc Nghệ An, sống và sáng tác cùng thời với Đại thi hào Nguyễn Du. Bà là nữ sỹ duy nhất trong 7 danh nhân Việt Nam được UNESCO vinh danh là "Danh nhân văn hóa thế giới".
Nét độc đáo trong nghệ thuật vịnh cảnh, tả tình, của Nữ sỹ đã đưa ngôn ngữ thơ lên một thứ bậc mới của nền thơ ca Việt Nam. Xét về quá trình thâm nhập vào quảng đại quần chúng, có thể thấy ảnh hưởng của thơ Hồ Xuân Hương cũng vững vàng không kém Đại thi hào Nguyễn Du là mấy
📚 Bài viết liên quan
Thứ Hai, 13 tháng 10, 2025
My daughter's drawing.
THIS IS ME
📚 Bài viết liên quan
Thứ Ba, 23 tháng 9, 2025
TƯƠNG BIỆT VÀ TƯƠNG LIÊN
Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương là 2 người sống cùng thời đại, 2 người sống nhiều ở Kinh Thành Thăng Long, nhưng có lý lịch là Dân Cá Gỗ.
Họ là bạn bè tương tri, nhưng không có duyên phận.
Nguyễn Du thuộc Tốp: nhà mặt phố, bố mần to, được ăn học đàng hoàng và có thi cử
📚 Bài viết liên quan
Thứ Ba, 22 tháng 7, 2025
PHIM NGA HAY NHẤT
Nước Nga Xô Viết trước đây tạo dựng nên một nền điện ảnh vĩ đại để lại ấn tượng sâu sắc trong ký ức khán giả. Thế hệ chúng tôi không quên những bộ phim Nga nổi tiếng như: Chiến hạm Potemkin (đạo diễn Sergei Eisenstein), Khi đàn sếu bay qua (đạo diễn Mikhail Kalatozov), Bài ca người lính (đạo diễn Grigori Chukhrai), Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân (đạo diễn Tatiana Lioznova), bác sĩ Watson (đạo diễn Igor Maslennikov), Sông Đông êm đềm (đạo diễn Sergei Gerasimov)… Bởi những nhân vật trong phim là biểu tượng cho tư tưởng, hành động, tình cảm của những thế hệ đi trước. Xin giới thiệu lần lượt một số bộ phim xuất sắc nhẩt
📚 Bài viết liên quan
Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2025
ĐÀN SẾU- BÀI CA NGƯỜI LÍNH
Không thể có chiến thắng nếu không có sự hy sinh xương máu của người lính. Họ ngã xuống trên chiến hào không vì sự vinh quang mà là sự hy sinh cho sự trường tồn của dân tộc, cho chúng ta đuợc sống yên bình. Với Tổ quốc họ là tượng đài bất tử dù họ hy sinh ở chiến trường nào. Nhưng không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau khi mất người thân.
Có rất nhiều tiểu thuyết nổi tiếng nói về người lính như Chiến tranh và Hoà bình của L. Tolxtoi, Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich, Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh...
📚 Bài viết liên quan
Thứ Hai, 14 tháng 7, 2025
РУССКОЕ ПОЛЕ - CÁNH ĐỒNG NGA
Bài hát - РУССКОЕ ПОЛЕ (CÁNH ĐỒNG NGA) được thế hệ chúng tôi yêu thích nhất là khi rong ruổi trên xe ôtô xuyên qua vùng đồng bằng của Ucraina khi đó thuộc Liên Xô {CCCP). Phụ đề Nga Việt: Phúc Nguyên. Ca sỹ Ян Френкель. Sáng tác bài hát nhạc - Музыка - Ян Френкель và lời - Слова - Инна Гофф. Remix. Tác giả video - Автор монтажа видео -Валентина Мальчик. @ВалентинаМальчик-у3ф Очень благодарю автора видео за возможность их исползования в своем видео с субтритами на Вьетнамском языке
📚 Bài viết liên quan
Thứ Tư, 2 tháng 7, 2025
THÁI DOÃN HIỂU NHÀ NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC
Tôi sinh ra ở xóm Thịnh Thượng, Thái Doãn Ngãi ở xóm Nậy bạn tôi – là em ruột anh Thái Doãn Hiểu. Thuở học cấp 3 hay qua lại với nhau nên biết anh Thái Doãn Hiểu con ông Thái Doãn Tiên còn gọi là ông Đồ Thiệu.
📚 Bài viết liên quan
Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2025
THƠ TẶNG MẸ
Ngày 8/3 anh bạn- nhà thơ, nhà báo Nguyễn Văn Quyền có bài thơ tặng mẹ:
MẸ THÍCH THƠ HƠN
Đến ngày mồng tám tháng ba,
Tặng Mẹ thì chọn thơ ca dâng người.
Câu thơ lưu mãi với đời,
Có trong con chữ tình người tặng thơ.
📚 Bài viết liên quan
Thứ Tư, 23 tháng 10, 2024
MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA
Nhà văn Nguyễn Khắc Trường sinh năm 1946 tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên, là lính kỹ thuật binh chủng Phòng không - Không quân, làm báo, viết văn với bút danh Thao Trường
Nguyễn Khắc Trường
Mảnh đất lắm người nhiều ma là tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại nói về cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa hai dòng họ Trịnh và Vũ với cuộc tranh chấp quyền lực và ruộng đất ở nông thôn
Ảnh tác phẩm in ấn cũ
Là một tiểu thuyết nổi tiếng được nhiều bạn đọc, nhà phê bình, nghiên cứu quan tâm, được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2007 và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Năm 2011, tác phẩm được chuyển thể thành kịch bản phim truyền hình dài tập nổi tiếng "Đất và Người"
Tác phẩm này như một lời tiên tri về thế giới chúng ta đang sống - thế giới người và ma lẫn lộn. Ma hiện hình trong cả những nơi chúng ta không hề nghĩ tới. Đọc và suy ngẫm mới thấy thực chất cái chúng ta cần ở cuộc sống này là sự bình yên và hạnh phúc chứ không phải những mục đích mơ hồ không có thực để biến thành những con ma lạc lối trong vòng xoáy của cuộc đời!
Liên hệ đóng góp tư liệu: Tại đây.
📚 Bài viết liên quan
Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022
TÁC GIẢ BÀI THƠ "ĐÔI BỜ" (ДВА БЕРЕГА)
Мы с тобой два берега У одной реки
📚 Bài viết liên quan
Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022
BÀI THƠ CHIA LY HAY NHẤT VĂN ĐÀN VIỆT
Nguyến Bính
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một sân ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng liêu xiêu…
Nguyễn Bính (1918 - 1966), quê Nam Định. Ông là một thi sỹ tài hoa của làng quê Việt Nam. Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ năm lên ba tuổi. Thi sĩ phải lấy bốn lần vợ. Có lẽ vì thế, thơ ông mang nặng những mối tình phân ly
Bài thơ phản ảnh đầy đủ nhất các vẻ phân ly trên sân ga xe hỏa, mà thi sĩ gọi là nơi khởi đầu: “Những cuộc chia lìa khởi từ đây/Cây đàn sum họp đứt từng dây”. Mà đã chia lìa thì tự thành đơn chiếc. Ai đã ở gần ga tàu hỏa phải chứng cảnh chia lìa diễn ra ở đây “suốt tối ngày”. Dĩ nhiên trên sân ga cũng có sự sum họp. Người ta đón nhau. gặp nhau,cầm tay nhau mừng mừng tủi tủi. Nhưng trước con mắt Nguyễn Bính, chỉ thấy cái góc chia ly
Cảnh chia ly được đặc tả cho đủ các thành phần.“Có lần tôi thấy hai em bé/Áp má vào nhau khóc sụt sùi”. Cảnh buồn quá. Rồi thì có lần lại thấy: “Một người yêu tiễn một người yêu một buổi chiều” Chỉ chưa đày hai câu thơ, mà từ “một” được láy đi láy lại đến ba lần. Cả đến buổi chiều cũng bỗng dưng thành lẻ: “Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu” Một bức họa sống động đến buồn tênh.
Đôi bạn cũ tiễn nhau trên sân ga cũng buồn lắm. “Kẻ ở trên toa, kẻ dưới tàu”. Người trên toa giục người dưới tàu về đến “ba bốn bận”. Nhưng người dưới tàu lưu luyến quá, có về nổi đâu?
Một tình bạn cũ. Hai cái bóng chiều trên sân ga.Cảnh ấy, tình ấy, bịn dịn quá!. Rồi vợ tiễn chồng
Hình ảnh một bà già lưng đã còng, trong chiều tàn lọ mọ tiễn con trên sân ga nom mới thật buồn. Buồn đến rầu rĩ!
“Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga”
Hai người trẻ tiễn nhau trên sân ga đã buồn. Một bà già lưng đã còng, tiễn con vào một chiều đang tàn trên sân ga thì càng buồn nhiều lắm. Một cảnh chia ly trong tình mẫu tử buồn đến nẫu ruột, nẫu gan.
Trên sân ga, có những cuộc, hình như không phải chia ly. Vì thấy anh ta lầm lũi lang thang trên sân ga chỉ có một mình. Một mình thì chia ly với ai? Không thấy người ra tiễn. Một mình, khiến cái “bóng lẻ”, bước “hững hờ” trong chiều tàn trên sân ga
“Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu, nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly”
Đơn chiếc trên sân ga lại là lúc chiều tàn, thì sự đơn chiếc phải buồn đến phát khóc. Tôi cũng đã từng có những cuộc như thế này. Nên đọc thơ ông cảm vô cùng.
"Nguyễn Bính, thi sĩ nặng nhiều về sự chia ly, nào biết người kia đang nghĩ ngợi gì? Và anh ta lên tàu rồi sẽ đi đâu, Về đâu? Trong cái mênh mang “ba phần tư nước mắt” này? Cảnh chiều trên sân ga “Một mình làm cả cuộc phân ly!”
Khổ kết của bài thơ, có bốn câu thì mang nặng bốn từ “Những”:
“Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này”
Một bức tranh chiều trên sân ga.Bức tranh vẽ một lúc nhiều cuộc phân ly. Cuộc phân ly nào cũng buồn rười rượi.">Người ta bước những bước “hững hờ”. Người ta “vẫy tay”. Người ta “vẫy khăn”. Và, “những đôi mắt ướt tìm đôi mắt”.Thi sĩ Nguyễn Bính vẽ bức tranh buồn. Bức tranh chiều trên sân ga, “Buồn ở đâu hơn ở chốn này?”.“Những bóng người trên sân ga” của thi sĩ Nguyễn Bính là một bài thơ buồn. Buồn ngay từ câu đầu, buồn đến tận câu cuối, làm người thưởng thơ trong thư phòng cũng buồn lây. Buồn tê tái đến bã bời cõi lòng. Nhưng nó là cái buồn của sự thưởng thức. Cái buồn thi sĩ
Nguyễn Bính là thi sĩ mang nặng chia ly thi sĩ chia ly người mẹ yêu thương từ lúc mới ba tuổi. Có lẽ đây là cuộc chia ly lớn nhất, ảm đạm nhất, đau buồn nhất. Thi sĩ buồn ngay từ lúc ba tuổi. Trong bốn mươi chín năm, thi sĩ có bốn mối tình đầu thì ít nhất cũng đã có ba cuộc chia ly với ba mối tình đầu trước. Và một cuộc chia ly với mối tình đầu thứ tư - Mối tình cuối cùng
Đời thi sỹ Nguyễn Bính nặng về sự chia ly. “Những bóng người trên sân ga” Một bài thơ buồn. Một nỗi buồn được tắm bằng những áng thơ mênh mang sâu lắng tâm trạng. Một nỗi buồn làm cho đời đẹp hơn, thi vị hơn, đáng sống hơn
📚 Bài viết liên quan
Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022
TRÁI BƯỞI KIA VÀNG NGỌT VỚI AI
Tết Nguyên
Đán Nhâm Dần 2022 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xúc động đọc 4 câu thơ khi
thắp hương tưởng nhớ Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch:
"...Trái bưởi kia vàng ngọt với ai.
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!.
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm.
Quanh mặt hồ in mây trắng
bay…"
Nhớ Bác mà buồn cho hậu duệ lại
nảy sinh một bộ phận mất nhân cách lạnh lùng lừa đảo, cướp bóc làm giàu trên nỗi
đau và xương máu của người dân trong đại nạn.
Dầu sao trong họa có phúc.
Đây là lúc chúng ta phải tỉnh
táo nhìn nhận lại tất cả để có sự điều chỉnh, thay đổi để diệt được tham nhũng,
loại trừ cái xấu để canh tân đẩt nước.
Chúng ta tin rằng Mùa Xuân và Đất nước vẫn Trường Tồn bởi đó là phạm trù vĩnh cửu cho dù có vật đổi sao dời.
Ngày 12/2 đang đến gần, xin mọi
người hãy nhớ thắp hương tưởng nhớ các chiến sỹ đã anh dũng hy sinh để bảo vệ
biên giới phía Bắc vì sự vẹn toàn của Tổ Quốc
Hy vọng tương lai của đất nước ta sẽ tốt đẹp công bằng, văn minh hơn.
📚 Bài viết liên quan
Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2021
Vương Trọng - với bài thơ Nhớ mẹ
Nhà thơ Vương Trọng - người con của Đô Lương xứ Nghệ. Ông có nhiều bài thơ cảm động viết về những người phụ nữ ruột thịt và gần gụi trong gia đình. Trong những bài thơ đó có bài "Khóc giữa chiêm bao" nhà thơ viết về người mẹ kính yêu của mình đã khuất núi từ nhiều năm nay
Nhà thơ Vương Trọng giới thiệu tới các nhà văn cựu binh Mỹ bài thơ về 10 cô gái Đồng Lộc
Vương Trọng sinh năm 1943 trong ngôi nhà nhỏ làng Đông Bích, xã Trung Sơn, Đô Lương, giống như bao mảnh đất khác của Nghệ An, từng nghèo đến xác xơ. Người dân phải chống chọi với cái đói, với thiên tai, bệnh dịch trong vô vàn khó khăn, lam lũ.Mỗi ngày lớn lên, được đắm mình trong bầu không khí ấm áp của gia đình, trong phong cảnh hữu tình nên thơ của mảnh đất giàu truyền thống xứ Nghệ.
Chính mảnh đất thuần nông nghèo khó đó đã nuôi dưỡng tâm hồn Vương Trọng. Con người chúng ta không ai muốn tuổi thơ nghèo khổ, nhưng ở góc độ nào đó, chính cái nghèo khó của tuổi thơ đã giúp ông nhiều trong sáng tác. Nó đã găm hồn ông với quê hương và khiến cho ký ức của ông trở nên đậm đặc trong thơ. Ông thường trêu hai đứa con ở Hà Nội: “Chúng mày không có tuổi thơ”. Với Vương Trọng, tuổi thơ ông đã đánh thức cái phần sâu sắc nhất, nhân bản nhất trong tiềm thức và trái tim ông – những thứ con người chúng ta có được khi lăn lộn với cuộc sống ở những chiều kích gai góc nhất của nó.
Nhà Vương Trọng cách Sông Lam một cây số, nhưng ngọn Quỳ Sơn thì năm trong tầm ngắm của ông hàng ngày. Có lẽ ngày xưa dân nghèo nên núi cũng trọc. Tuy vậy, núi Quỳ đã gắn bó với Vương Trọng như biết bao ngọn núi, con sông quê đã gắn bó với những tâm hồn thi nhân.
Bố VươngTrọng là ông đồ nho, các anh trai yêu thơ và hay đọc thơ. Bởi thế mà trước khi biết đến thơ trong sách vở, thậm chí là trước khi biết chữ, Vương Trọng đã thuộc nhiều bài thơ từ chính những người thân trong gia đình mình.
Anh trai của ông là Vương Đình Trâm cũng là một nhà thơ. Ông có biệt tài thuộc thơ rất nhanh. Từ nhỏ, Vương Trọng đã thuộc “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”, “Truyện Kiều” những truyện thơ thuộc hàng dài nhất của thơ Việt Nam trung đại. Trên tất cả, ông tha thiết yêu “Truyện Kiều” như yêu những gì tinh túy nhất của nền văn học Việt Nam từ cổ đến kim. Ông nói: “Đã là người của văn học thì không thể không yêu Truyện Kiều được”, vì nó là thước đo cho khả năng và sự cảm thụ văn học
Từ năm học lớp 4, Vương Trọng đã biết làm thơ. Bài thơ đầu tiên mà ông sáng tác, có nhan đề đặc sệt phong cách của các bậc tiền bối: “Vịnh khe Bò Đái”. Đây là kỷ niệm mà Vương Trọng mãi mãi khắc ghi, bởi nó đánh dấu lần đầu tiên ông sáng tác một bài thơ hoàn chỉnh, diễn tả nỗi lòng ông với quê hương, nơi có khe nước mang cái tên rất dân dã chảy những dòng nhỏ trong vắt mà lũ trẻ con thời trước thường ra tắm
Vương Trọng giỏi đều các môn khi tốt nghiệp phổ thông, ông đã không chọn văn học để bắt đầu sự nghiệp. Năm 1962, Vương Trọng thi đỗ vào Đại học Tổng hợp Hà Nội, khoa Toán.Chính tư duy toán học đã giúp ông có được khả năng khá nổi trội về mặt diễn thuyết với cách nói rành mạch, bố cục rõ ràng, khúc chiết. Song, thơ ca như đã ngấm vào trong máu. Năm 1966, ông tốt nghiệp đại học, được điều về làm ở Cục Quân báo với công việc thám dịch mật mã của địch. Đến năm 1970, Vương Trọng trở thành giáo viên dạy toán luyện thi đại học ở Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng đóng tại Thị xã Lạng Sơn. Năm 1972, ông tham gia học lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du và công tác cho đến ngày về hưu tại Tạp chí Văn nghệ quân đội.
Xa quê quá nửa đời người mà khi gặp lại ta vẫn nghe giọng nói của nhà thơ Vương Trọng vẫn đậm đặc chất Nghệ.
Ông có nhiều bài thơ cảm động viết về những người phụ nữ ruột thịt và gần gụi trong gia đình.Trong những bài thơ đó có bài "Khóc giữa chiêm bao" nhà thơ viết về người mẹ kính yêu của mình đã khuất núi từ nhiều năm nay.
Ông đã kể về xuất xứ của bài thơ này:
Đó là một đêm ở Hà Nội ông nằm mơ thấy mẹ mình. Lạ lùng là trong giấc mơ nào cũng vậy bao giờ ông cũng mơ về những tháng năm khốn khó của gia đình. Những năm mà cuộc sống của anh em ông đè trên đôi vai gánh gồng của mẹ. Ông thường khóc trong giấc mơ gặp mẹ.
Giấc mơ là kí ức hiện về sau nỗi nhớ. Nó là vầng huyền ảo kỳ diệu của cảm xúc. Đấy là những ký ức cốt nhục khó có thể quên nhưng lại không thể hiện hữu. Mơ gặp mẹ khi tỉnh dậy biết là mẹ đã đi xa lâu rồi mà tâm hồn con vẫn bổi hổi bao nỗi nhớ thương. Lúc ấy người làm thơ đã khóc. Đúng ra là đứa con trai đã khóc khi gặp lại mẹ mình. Những giọt nước mắt hiếu thảo trong một đêm Hà Nội vào năm 1988 cách đây hơn hai mươi năm ấy đã thao thức với Vương Trọng để cùng ông hiện lên những dòng chữ cảm động trong bài thơ:
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt đường đê sụt lở,
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Đêm tha hương con tìm lại những gì
Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa.
Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ
Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.
Bài thơ của riêng ông cũng là tình cảm chung nhiều người.Trước ngày mẹ mất Vương Trọng đã có thơ về mẹ, sau ngày mẹ mất ông vẫn viết thơ về mẹ nhưng phải đợi đến nhiều năm sau, năm 1988 nhà thơ mới bật lên được thi khúc khóc mẹ thấm lòng này. Có ai gần gũi với mẹ hơn con. Có ai thương con hơn mẹ. Mẹ thật vĩ đại, niềm vĩ đại cốt nhục trong mỗi đứa con. Cảm nhận về sự khôn cùng ấy thì dễ nhưng thể hiệnđược nó ra bằng chữ bằng lời không dễ. Nhiều khi ta viết về mẹ mà cảm thấy chưa thật vừa lòng về những điều ta viết ra. Nỗi niềm đó là của Vương Trọng cũng là nỗi niềm của nhiều người làm thơ khác.
Nước mắt của những đứa con mồ côi khi mẹ mất đều có chung vị mặn như nhau. Không hẹn mà gặp. Nhà thơ Vương Trọng đã nói giúp nhiều người khác niềm đau đáu này.
Giọt nước mắt trong mơ của Vương Trọng, giấc mơ thì sẽ tan đi nhưng nước mắt theo nhà thơ lại là thật, lại là một hiện thực khắc. Với mẹ của mình chúng ta mãi còn bé bỏng, trẻ dại. Thật hạnh phúc cho những ai còn mẹ và quá đỗi thiệt thòi cho những ai đã mất mẹ. Nhưng luật Trời đã định rồi. Làm sao qua khỏi ngưỡng của vận mệnh. Mẹ chẳng thể sống mãi và ở mãi với ta. Từ nay mất mẹ biết bao giờ tìm. Ta chỉ còn gặp lại được mẹ trong mơ. Xa xót vậy làm sao không thể không khóc được
Nhà thơ Vương Trọng đã cho ta sự đồng cảm hiếu đễ khi đọc bài khóc mẹ giữa chiêm bao của ông. Bài thơ về nước mắt nhưng thấm đậm nghĩa tình. Giọt nước mắt ấy không thể làm chúng ta mộng mị mà chỉ có khắc sâu thêm nỗi thương nhớ mẹ một đời vất vả nuôi ta để ta được sống tốt hơn như những điều mẹ mong muốn
Nhà thơ Vương Đình Trâm anh trai ruột của Vương Trọng đã khắc bài thơ của em mình vào đá trắng và đặt bên mộ mẹ. Mộ của thân mẫu nhà thơ ở trên núi Quỳ Sơn. Tấm bia tạc thơ về mẹ của đứa con hiếu thảo đặt bên phía tay phải chỗ mẹ nằm. Nơi này khi nhìn xuống thấy dòng sông Lam chảy miên man về biển khiến ta nhớ tới câu ca dao "Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!". Và khi ngước lên trong độ cao của một trăm mét núi nơi mẹ yên nghỉ ta nhận ra mẹ của nhà thơ được tạc bằng chữ nghĩa của người con trai đã thành đạt trong cuộc sống và gia đình vẫn khôn nguôi nhớ về những ngày mẹ tảo tần nuôi các con thuở còn nhiều khốn khó.Mẹ là Phúc Thần của mỗi đời con!
Từ ngày về hưu đến nay, Vương Trọng vẫn dành nhiều thời gian sáng tác thơ, nhưng ông cảm thấy lý thú hơn với việc nghiên cứu. Ông đã và đang thực hiện các công trình dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du, dịch lại “Chinh phụ ngâm” và viết nghiên cứu về “Truyện Kiều”. Mỗi khi có dịp, Vương Trọng lại đáp tàu về Vinh, nếu nhiều thời gian thì nán lại thành phố gặp gỡ bạn bè, còn không thì bắt xe về Đô Lương, nơi ông gửi trọn cả hồn mình ở đó. Ông nói, người trẻ nhiều kẻ tự hào khoe về việc đi xa của mình, càng xa càng tốt, song người già thì lại mong muốn được về quê, càng nhiều, càng tốt. Giờ đây về Đô Lương, Vương Trọng thấy vui vì quê hương đổi mới. Không còn nhiều mái đình, mái chùa, không còn những đường cong của “làng tôi nhỏ, lối vào làng cũng nhỏ
Không còn những ngọn núi trọc mà thay vào là một Quỳ Sơn với những dãy núi xanh
rờn màu thông. Vương Trọng còn có những câu thơ viết ra từ đáy lòng ông, từ nỗi khắc khoải hướng về mảnh đất nơi ông được sinh thành:
Khi mắt tôi khép lại cái nhìn:
Hãy đưa tôi về nơi sinh nở…
Núi Quỳ Sơn sẵn dành chỗ tôi nằm
Hoa ấm lửa, đất nồng hơi than cháy
Hạnh phúc lắm được nằm xuống đấy
Dù gió mưa, không biết lạnh bao giờ…
📚 Bài viết liên quan
Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2021
YÊU NHAU THỜI CHƯA CÓ SMARTPHONE
LOVE BEFORE THERE WERE SMARTPHONES
Không hiểu cuộc sống sau hôn nhân sẽ ra sao khi quá say sưa công nghệ.
Tôi nhớ cách đây không lâu, hàng loạt fanpage chia sẻ bức ảnh “Cô dâu chú rể thời công nghệ” với cảnh chàng trai và cô gái ngồi quán trà đá trong trang phục cưới nhưng đều chăm chú vào điện thoại không để ý đến nhau.
Câu chuyện tưởng như đùa ấy lại chính là thực trạng của xã hội ngày nay khi mà các cặp đôi yêu chiếc điện thoại hơn cả người bạn đồng hành của mình. Những buổi hẹn hò gặp nhau trong một quán cà phê để online và xem điện thoại.
Ông bà anh yêu nhau thời chưa có tivi
Ông bà anh yêu nhau thời chưa có tivi
Công nghệ còn đẩy con người xa nhau, lạc lõng ngay trong chính nơi bình yên nhất – gia đình. Khi cả nhà “quây quần” cùng nhau, thay vì trò chuyện, nhất là lớp trẻ đều chăm chăm vào màn hình điện thoại. Cha mẹ cũng ít nói chuyện với con hơn, những đứa trẻ chẳng muốn chia sẻ chuyện gì cho người lớn.
Còn nhớ mãi cái thời chưa có internet, chưa có điện thoại di động, chưa có máy tính bảng, sau khi ăn cơm xong cả nhà quây quần bên nhau, cùng trò chuyện, xem phim…..
📚 Bài viết liên quan
Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021
ĐÀN SẾU - Журавли
NGÀY 12 THÁNG 4 NĂM 1998
Cách đây 43
năm vào ngày 12/4/1998, khi tôi đang ở khu tập thể ngã 3 Quán Bàu của Ty Ngoại
thương Nghệ Tĩnh, trên đường Nguyễn Trãi TP Vinh, được tin em tôi đã hy sinh
trên Biên giới tỉnh Hà Tiên. Không ai đau xót bằng chính những người có con em
đã ngã xuống trên chiến trường... dù đó là cuộc chiến nào.
Nhớ đến ngày em hy sinh, anh lại nghe lại ca khúc Đàn Sếu (Журавли) của Nga tưởng niệm những người lính Xô Viết đã hy sinh trong chiến tranh Vệ Quốc.
ĐÀN SẾU
Đôi lúc tôi chợt nghĩ rằng, người lính
Trong cuộc chiến tranh đẫm máu đã hy sinh,
Không vĩnh viễn nằm sâu trong lòng đất
Mà hóa thành những đàn sếu trắng tinh.
Họ bay mãi tự xa xăm quá khứ
Tới ngày nay và trò chuyện cùng ta,
Phải vì thế mà ta thường tư lự
Hay chạnh buồn khi lặng ngắm trời xa.
Hôm nay lúc hoàng hôn đang dần tới
Tôi bồi hồi khi thấy giữa màn sương
Đàn sếu trắng bay chỉnh tề hàng lối
Như đoàn người lê bước giữa đồng hoang.
Đàn sếu bay trên con đường dằng dặc
Và gọi tên những ai đó lao xao.
Phải vì thế mà âm thanh Avác
Tự bao đời giống tiếng sếu làm sao…
Bay, bay qua khoảng trời mệt mỏi
Trong bóng chiều, trong bát ngát màn sương,
Giữa đoàn quân ngỡ thừa ra khoảng trống
Hình như còn dành để cho tôi.
Sẽ có ngày tôi bay cùng đàn sếu
Trong mịt mờ sương xám tựa hôm nay,
Và ở giữa trời cao như chim tôi sẽ gọi
Tất cả mọi người còn lại ở nơi đây…
Trong ngày Lễ Chiến thắng 9-5 của Liên Xô, khi tôi ở Nga, luôn
thấy có những bà mẹ, những người phụ nữ Nga đã cao tuổi bên vệ đường, trên
quảng trường dõi mắt theo đoàn người mít-tinh, diễu hành. Họ đứng đó với bó hoa
cẩm chướng trên tay và các tấm ảnh chân dung và tấm biển ghi tên cha, anh,
chồng, con, những người lính Hồng quân đã không trở về sau ngày Chiến Thắng
phát xít Đức, có khi chỉ là những bức thư thời chiến trận còn lưu giữ. Đối với
họ, những người lính ấy không bao giờ chết và họ hy vọng về một ngày không xa
sẽ gặp lại người thân...
Hình ảnh người phụ nữ Nga đợi người thân
trong Ngày chiến thắng 9-5 hằng năm đã trở thành biểu tượng hy sinh của nhân
dân Liên Xô luôn vang vọng như giai điệu mượt mà, trầm buồn của ca khúc Đàn
Sếu. Bài thơ Đàn Sếu (Журавли) của Ra-xun Gam-da-tốp xứ
Đa-ghét-xtan- Liên Xô sáng tác được Ян Френкель phổ nhạc vào năm 1968, 23 năm sau khi cuộc chiến
tranh vệ quốc vĩ đại kết thúc đã
nhanh chóng lan truyền và được nhiều người Liên Xô và người yêu nhạc Việt Nam
yêu thích.
📚 Bài viết liên quan
Thứ Hai, 5 tháng 4, 2021
CHÀO NHÉ, VĂN HÓA NGHỆ AN!
Tôi quen biết và từng làm việc với anh Phan Văn Thắng vào những năm (1995 - 1998) khi anh là Giám đốc Trung tâm văn hóa tỉnh Nghệ An, trụ sở trên đường Quang Trung, cạnh Rạp chiếu phim 12/9 - trên mặt đường phố to, đẹp nhất của TP Vinh.
Khi anh làm Tổng biên tập tạp chí Văn hóa Nghệ An do thay đổi môi trường làm việc tôi không gặp anh nữa, nhưng tôi quý phong cách làm việc phóng khoáng, thẳng thắn của anh và vẫn thường xuyên theo dõi Tạp chi Văn Hóa Nghệ An vì có nhiều bài viết hay, rất chất lượng về các vấn đề trong nước và quốc tế
Anh là người sáng lập và tạo nên hồn cốt của Tạp chí Văn hóa Nghệ An và nghỉ hưu khi tạp chí tròn 13 tuổi. Qua 15 năm tồn tại Tạp chí VHNA có tới 73,2 triệu người theo dõi.
Chào nhé, Văn hóa Nghệ An!
Anh Phan Văn Thắng nguyên TBT tạp chí VĂN HÓA NGHỆ AN
Một tờ tạp chí được bạn đọc quan tâm, đón đợi và mến mộ, nhất là giới trí thức trong và ngoài nước vì có tinh thần học thuật, tinh thần phản biện, có dũng khí, có trách nhiệm với những vấn đề quan trọng của đất nước, của sự nghiệp văn hóa
Từ 30/11/2020 tạp chí đã chấm dửt hoạt động, xin phép đăng lại bài viết này của anh được đăng trên Tạp chí Văn Hóa Nghệ An
DON DUONG
Tạp chí VHNA tổ chức giới thiệu sách của nhà nghiên cứu văn hóa, văn học Vương Trí Nhàn tại thành phố Vinh
Tạp chí Văn hóa Nghệ An tổ chức Đêm giao lưu "Trò chuyện về Trịnh Công Sơn"
Chào nhé, Văn hóa Nghệ An!
PHAN VĂN THẮNGThứ hai, 30 Tháng 11 2020 19:38
Ban biên tập đề xuất tôi viết về quá trình phát triển của tạp chí Văn hóa Nghệ An (VHNA) nhân kỉ niệm 15 năm thành lập (và cũng là lúc chấm dứt hoạt động của nó). Tôi băn khoăn không biết có nên viết vì thực ra bây giờ tôi cũng chỉ làm một bạn đọc như bao người khác mà thôi. Vả lại, những điều cần viết về Văn hóa Nghệ An tôi đã viết cách đây 5 năm, nhân dịp kỉ niệm 10 năm thành lập. Cân nhắc khá lâu và cuối cùng tôi đã nhận lời vì có nhiều gửi gắm của đồng nghiệp, bạn đọc, bạn viết; Và còn có những điều cần nói về Văn hóa Nghệ An mà chưa ai nói, chưa ai viết một cách rõ ràng
Lịch sử của Văn hóa Nghệ An tôi đã viết (và đọc) khá đầy đủ cách đây 5 năm, xin không nhắc lại. Những con người đã góp phần làm nên Văn hóa Nghệ An tôi cũng đã nói khá rõ và bày tỏ sự biết ơn, trân trọng trong dịp đó
Vậy nói gì bây giờ?
Lần trước, tôi nói về sự trưởng thành của nó. Bây giờ thì Văn hóa Nghệ An hết cơ hội trưởng thành rồi! Ngày 30.11.2020 sẽ là ngày cuối cùng của nó
Một vài năm trước không ai có thể ngờ có ngày hôm nay. Đọc lại bài vở, thư từ giao dịch với cộng tác viên, với bạn đọc và với cả các vị lãnh đạo hữu quan… thì đúng là không có gì khó đoán hơn về sự mất còn. Văn hóa không bao giờ là trò sấp ngửa nhưng số phận nó thì có. Tôi còn nhớ các vị lãnh đạo cao nhất tỉnh từng nói: Tỉnh này không thể không có một tờ VHNA. Phải hỗ trợ cho nó phát triển. Và các ông đã có những quan tâm thiết thực cho nó phát triển. Chúng tôi đã vô cùng cảm kích, biết ơn và phấn đấu để có một tạp chí văn hóa như bạn đọc và các vị lãnh đạo mong muốn. Vâng, nó đã phát triển đến tuổi 15, cái tuổi của sự trưởng thành…!Minh triết của cha ông có câu: “Cái quan định luận”. Bây giờ đã có thể luận về tạp chí VHNA, vì nó đã “cái quan”; Nó sẽ không còn tồn tại sau khi số báo này phát hành
Có người nói tạp chí Văn Hóa Nghệ An đã hoàn thành sứ mạng của nó. Tôi không nghĩ như vậy. Văn hóa là một dòng chảy liên tục, không ngừng nghỉ, không có điểm dừng khi còn nhân loại. Sự nghiệp văn hóa cũng như vậy, sẽ dài lâu và không có điểm dừng để tạo ra những giá trị mới đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Nghiên cứu, truyền thông về văn hóa là công việc đương nhiên, thường xuyên của bất cứ thiết chế xã hội nào. Việc tồn tại của các cơ quan nghiên cứu, truyền thông văn hóa ra đời và tồn tại là vì vậy
Vẫn biết thời nay mọi việc đều có thể xảy ra ngoài ý muốn, thậm chí phi quy luật, ngoài sức tưởng tượng, nhưng sự chấm dứt hoạt động của tạp chí Văn hóa Nghệ An, với tôi, vẫn là bất ngờ lớn
Vậy thì hãy nói về những bất ngờ, những bất ngờ khó ngờ nhất
Tôi không ngờ, không hiểu, Nghệ An - xứ sở có một nền văn hóa, truyền thống văn hóa phong phú, nhiều đặc sắc, đặc thù đến vậy mà không thể có một tờ tạp chí với tư cách là công cụ để tổ chức nghiên cứu và quảng bá về nó, để làm cho các giá trị độc đáo, đặc thù ấy ngấm vào dòng chảy cuộc sống hôm nay và tương lai của người xứ Nghệ. 3,2 triệu dân xứ Nghệ đang cư trú ở quê và hàng triệu người Nghệ các thế hệ đang sinh sống ở khắp nơi trên thế giới xứng đáng có một tờ tạp chí về văn hóa của xứ sở. Sẽ làm gì để cho văn hóa thấm sâu vào đời sống nhân dân như mong muốn? Nghệ An đang phấn đấu trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ. Có thêm một tờ tạp chí văn hóa sẽ là một động cơ góp phần thúc đẩy bước tiến của tỉnh nhà, ít nhất là về văn hóa theo nghĩa hẹp nhất của nó
Để thúc đẩy phát triển văn hóa thì hô hào suông là không đủ mà phải hành động, phải sáng tạo mới hi vọng có được các giá trị. Muốn có sáng tạo thì phải có tri thức, có tài năng, và có phương tiện. Liệu tạp chí Văn hóa có phải là một thiết chế, một phương tiện để cộng đồng bồi bổ tri thức làm nền tảng cho quá trình sáng tạo? Hãy xem nó là một công cụ truyền dẫn cho cộng đồng trong quá trình tiếp nhận văn hóa từ các nguồn khác nhau, từ truyền thống, từ thời đại… Và là một phương tiện, một kênh truyền thông quảng bá văn hóa xứ Nghệ với thiên hạ. Nếu điều đó là đúng thì rất đáng để cho nó một cơ hội tồn tại và phát triển
Thêm một điều nữa, tôi muốn nói. Rằng, Văn hóa Nghệ An suốt 15 năm qua chắc chắn là một tờ tạp chí được quan tâm, đón đợi và mến mộ của bạn đọc, nhất là giới trí thức trong và ngoài nước. Sở dĩ vậy vì nó có hàm lượng khoa học khá cao, có tinh thần học thuật, tinh thần phản biện, có dũng khí, có trách nhiệm với những vấn đề quan trọng của đất nước, của sự nghiệp văn hóa. Văn hóa Nghệ An là tờ tạp chí đã từng bước đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và khắt khe của bạn đọc.Đó là điều đã được chứng thực
Vậy thì, cớ sao lại không vì nhu cầu của đông của đảo bạn đọc mà tạo cho Văn hóa Nghệ An một cơ hội tiếp tục phục vụ bạn đọc?
Cách đây 5 năm, khi kỉ niệm 10 năm thành lập (năm 2015), chúng tôi và bạn đọc, bạn viết đã cùng nhau rạo rực hướng về “Hành trình và khát vọng” của tạp chí Văn hóa Nghệ An
Còn hôm nay, tôi, và rất nhiều bạn đọc, nhiều người viết đã, đang và sẽ bâng khuâng, hụt hẫng về một ngày mai không có tạp chí VHNA. Sẽ không có ai chết, nhưng chắc chắn tinh thần và tâm hồn của nhiều người sẽ nghèo nàn đi không ít
Chào nhé, Văn hóa Nghệ An!
Hẹn gặp lại vào một ngày không xa!
***Tiếc cho một thương hiệu
Từ Hà Nội, tôi chính thức được tin Tạp chí sẽ ra số cuối cùng vào cuối tháng 11/2020.
Trong cảm xúc, tôi thực sự tiếc, rất tiếc cho một thương hiệu uy tín trong làng báo chí cả nước và trong tình cảm mến mộ của hàng vạn độc giả
Tôi nói Văn hóa Nghệ An là một thương hiệu, bởi trước hết nó là một sản phẩm văn hóa có giọng điệu riêng, có bản sắc và có bản lĩnh riêng
Khoảng cuối năm 2011, tôi đưa người bạn đến tạp chí ở đường Nguyễn Đức Cảnh. Ngồi lâu rồi mà bạn tôi vẫn ngó quanh và trầm ngâm về một điều gì đó có vẻ thật xa xôi. Khi ra khỏi cổng lão ta mới nói mình không ngờ ông ạ. Tôi hỏi không ngờ chi? Lão nói bạn đọc bên Đức, Mỹ, Nga, Úc…họ có biết cái Tạp chí này phải đi thuê trụ sở không nhỉ? Rồi lão lẩm bẩm phi thường, phi thường, đáng nể quá
Tôi nói Văn hóa Nghệ An là một thương hiệu còn bởi những lẽ sau:
1. Nhạy bén và bản lĩnh khi đưa tin là đặc trưng nổi trội của Văn hóa Nghệ An
Nhạy bén là vì có những vấn đề lớn, các báo khác không đưa, chưa đưa hoặc đưa rất dè dặt thì Văn hóa Nghệ An lên tiếng sớm, đậm đặc, thái độ rõ ràng không úp mở
Bản lĩnh ở chỗ, phàm là những thông tin như vậy thì bên chức năng thường cho là nhạy cảm, bạn đọc cũng chưa có kênh thông tin đối chứng nên lời vào lời ra thường xuyên
Nhiều người yêu và lo Văn hóa Nghệ An thì hỏi đăng thế không sợ bị đình bản à?
Cũng có người vì được phân công rồi cứ lảng vảng, tiếng xa tiếng gần đánh động để Văn hóa Nghệ An ý tứ mà giảm nhiệt
Nhưng không. Văn hóa Nghệ An duy trì trạng thái đó thường xuyên nhiều năm, không giao động, không nghiêng ngả. Thậm chí mấy lần cũng sơ sẩy và phải nhờ vào những tác động siêu tưởng và thêm tý may mắn thì mới giữ lại được cái giấy phép
Trong những chuyên đề như vậy thì đáng nói nhất là mạch bài với chủ đề Kinh tế thị trường định hướng XHCN và mạch bài Làm thế nào để thoát Trung? Riêng mạch bài Làm thế nào để thoát Trung? khi Văn hóa Nghệ An xuất bản đã tạo cơn sốt về dư luận xã hội rất đáng chú ý. Bây giờ thì nhiều báo lên tiếng, kể cả báo Trung ương, nghĩa là nội dung này đúng/ sai đã được khẳng định. Nhưng Văn hóa Nghệ An lúc đó là một trong số rất ít các cơ quan báo chí chính thống trong cả nước đưa tin đầu tiên, đưa liên tục cả chùm bài rất đậm
Một tạp chí chuyên ngành của một tỉnh lẻ, bé nhỏ và mỏng manh như cái thuyền nan, vậy mà đã trụ vững qua không biết bao nhiêu là giông bão. Kỳ tài thật!
2. Điểm lại những tác giả đã cộng tác trong những ngày Văn hóa Nghệ An trứng nước đến ngày cứng cáp, có GS. Phan Huy Lê, GS. Trần Quốc Vượng, GS. Trần Đình Sử, GS. Nguyễn Huệ Chi, GS. Nguyễn Đình Chú, GS. Mạch Quang Thắng, PSG. Bùi Đình Phong, NNC Đỗ Lai Thúy, NNC Phạm Xuân Nguyên, NNC Nguyễn Hùng Vỹ, TS. Đinh Hoàng Thắng, TS. Nguyễn Ngọc Chu, nhà văn, nhà giáo Bùi Việt Thắng, TS. nhà báo Hồ Bất Khuất… Tôi hiểu đó là những trí thức rất cá tính, rất chân chính và rất uyên thâm các lĩnh vực chuyên ngành. Những bài viết của những gốc đa này thường có cái nhìn khác lạ, có cách lý giải đầy ma lực và sự cuốn hút thật dữ dội. Khen cho Văn hóa Nghệ An đã có tài dùng được họ, và chính họ đã mang lại cho Văn hóa Nghệ An một chất giọng rất riêng, giúp Văn hóa Nghệ An tạo nên hàm lượng giá trị thông tấn vượt trội - điều mà không nhiều tạp có được
3. Tôi có người bạn đồng niên gốc Vinh, sống ở Liên bang Đức tròn 45 năm. Năm ngoái lão về Hội khóa. Ngồi cà phê Star Movies (TP Vinh) lão tý toáy liên hồi cái Ipad. Lát sau lão nói bài này đọc nghiện luôn. Tôi ghé mắt trông sang mới hay đó là bài viết về nhà canh tân Nguyễn Trường Tộ trên trang điện tử của Văn hóa Nghệ An. Tò mò, tôi hỏi ông cũng vào trang này à? Bạn tôi nói ngay bên Beclin hội người Việt vào thường xuyên, nhất là mục Đất và người xứ Nghệ, đọc để hiểu thêm văn hóa quê nhà và cũng để bớt nguôi ngoai về núi Hồng sông Lam
Có lẽ nhờ chất lượng tin bài hấp dẫn nên Văn hóa Nghệ An đã giữ chân cả hàng vạn độc giả, từ Nghệ An đến Hà Nội, vào Sài Gòn; từ trong nước vươn ra Phần Lan, Pháp, Nhật, Canada, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan...Lúc cao điểm, Văn hóa Nghệ An đã phủ sóng tới hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Bạn đọc tiếp cận Văn hóa Nghệ An trước hết để khám phá những hiểu biết về văn hóa xứ Nghệ - một xứ sở văn hóa khác biệt và kỳ thú.
Văn hóa Nghệ An cũng luôn thỏa mãn nhu cầu độc giả khi muốn làm đầy thêm những thông tin thời cuộc Đông Tây mới lạ, đa chiều
Ai đã trải qua nghề báo, thấu hiểu những hiu hắt của bạn đọc với bản báo thì mới thấm hết giá trị niềm vui và hạnh phúc của Văn hóa Nghệ An
Tôi nghĩ âu đó cũng là một kết thúc có hậu cho một tiền vận rất long đong của Văn hóa Nghệ An
Dành một lời cám ơn cựu Tổng Biên tập Phan Văn Thắng, người đã tạo dựng nên hồn cốt của Văn hóa Nghệ An
Cám ơn các anh chị phóng viên, cộng tác viên, biên tập viên đã góp sức vun đắp cho Văn hóa Nghệ An luôn ngập tràn năng lượng và đạt ngưỡng thăng hoa trong nhiều năm qua
Thời gian sẽ cuốn trôi nhiều chuyện. Nhưng tôi tin mãi mãi về sau, người đời vẫn nhớ và nhắc đến Văn hóa Nghệ An như một dấu ấn rất đáng trân trọng!
ĐẶNG KHẮC THẮNG
Thứ hai, 30 Tháng 11 2020 20:04
>📚 Bài viết liên quan
Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2021
VINH KHUAT CHÀNG TRAI ĐỨC GỐC VIỆT ĐA TÀI
Новая Волна-2013 Brandon Stone & Vinh Khuat - ''Подмосковные Вечера'' HD
📚 Bài viết liên quan
Thứ Ba, 3 tháng 11, 2020
ĐI TÌM MÀU TÍ HOA SI KỲ 8: ĐỒI SIM VẪN TÍM CHIỀU HOANG
NHÀ THƠ HỮU LOAN
Bao năm qua và rất nhiều năm nữa, nhân gian vẫn thổn thức với:
"Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương tàn lạnh vây quanh"...
Bảo tàng Văn học Việt Nam hôm chúng tôi đến đang đóng cửa tránh dịch, hai hôm sau mới mở cửa. Gian trưng bày nhà thơ Hữu Loan ở tầng năm, nằm cạnh nhà văn Kim Lân và Bùi Hiển; đối diện với nhà thơ Quang Dũng và Hoàng Cầm.
Bức tượng đồng bán thân Hữu Loan rất sống động do người con trai út Nguyễn Hữu Đán chuyển tặng.
Con trai út Nguyễn Hữu Đán lưu giữ nhiều bản thảo chưa công bố của Hữu Loan - Ảnh: THÁI LỘC
Sự gợi nhớ không chỉ ở dòng chữ "Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt", mà còn ở bó hoa sim chen lẫn hoa lúa vắt trên vai mang hồn hai bài thơ Mầu tím hoa sim và Hoa lúa gắn liền hai cuộc tình mà cũng là đỉnh cao sự nghiệp thi ca của nhà thơ Hữu Loan...
Phần giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ ghi rõ ông là "hội viên sáng lập Hội Nhà văn VN năm 1957". Năm trang bản thảo bài thơ Mầu tím hoa sim thủ bút Hữu Loan viết trên giấy mỏng ố màu thời gian được ghi chú là tác phẩm đạt Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật lần thứ 3-2012.
Phía trên là bức ảnh đen trắng thi sĩ ngồi trên chiếu cói cùng các bạn văn. Hàng dưới bày các đồ dùng thường nhật của nhà thơ như quạt máy để bàn, radio, phích nước, bộ ấm chén và điếu cày.
Cảm động hơn cả là chiếc xe lăn gắn bên trên là chiếc ghế nhựa trắng cưa chân, một hiện vật làm gợi nhớ về hình ảnh nhà thơ những năm cuối đời...
Nhà thơ Lê Quang Sinh - phó giám đốc bảo tàng, kể khi nhận nhiệm vụ sưu tầm hiện vật của Hữu Loan, ông gọi về một nhà văn ở Thanh Hóa và thất vọng khi người này bảo "bản thảo mọi thứ bị đốt hết rồi còn đâu nữa".
May rằng sự thật ngược lại, ông được những người con tạo điều kiện hết mức, sưu tầm được nhiều thủ bút Hữu Loan. Đặc biệt là bản thảo tập thơ Hoa lúa do Hội VHNT Thanh Hóa đã hoàn thành biên tập nhưng chưa in vì dành tiền xây nhà tình nghĩa cho nhà thơ.
Hiện vật này được xem độc bản, rất nhiều thủ bút chỉnh sửa vô cùng quý giá. Cùng "hai ôtô hiện vật" chở về còn có thêm cây trúc trong vườn nhà thơ, hiện đang xanh tốt trong khuôn viên bảo tàng.
Nhà thơ Hữu Thỉnh - chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam kiêm giám đốc bảo tàng, là người mê thơ Hữu Loan từ hồi còn đi học. Ông nhận xét Hữu Loan là một trong những nhà thơ thế hệ kháng Pháp tiêu biểu.
Nhưng khác với nhiều tác giả khác có thể chỉ một bài, Hữu Loan có nhiều bài trên các bút pháp khác nhau, thể hiện sự đa dạng của tâm hồn và cảm xúc...
Những bức ảnh xưa quý giáKTS Nguyễn Hữu Đán hẹn gặp chúng tôi tại trụ sở Công ty CP Bảo tồn di sản văn hóa kiến trúc Việt mà ông làm giám đốc ở Hà Nội.
Ông dẫn chúng tôi lên tầng thượng, nơi dựng ngôi nhà gỗ phong cách xưa làm nhà truyền thống công ty. Trên bàn gỗ ở gian bên, bức tượng đồng kèm bài vị sơn thếp cùng một số kỷ vật của người cha Hữu Loan.
Câu chuyện kéo đến giữa khuya, ông dẫn chúng tôi lên tầng ba thắp hương cho bố mẹ trên bàn thờ gỗ sơn thếp rất đẹp ở nhà riêng. Trên chiếc tủ gỗ cũ kỹ được giới thiệu của bố và chuyển về từ Vân Hoàn, một bức tượng Hữu Loan, nhiều tranh, ảnh và bằng công nhận Giải thưởng Nhà nước...
Ông lục album gia đình, có rất nhiều bức ảnh xưa quý hiếm về nhà thơ. Đặc biệt là bức ảnh chân dung thời trai trẻ vô cùng hiếm hoi (mà về sau nhà thơ Hữu Thỉnh đề nghị chúng tôi chuyển lại cho Bảo tàng Văn học Việt Nam).
Tôi hỏi ngay chiếc bình hoa xưa, ông bảo kỷ vật đó quá đặc biệt, quá sâu nặng đối với bố. Ngày xưa đó chính là "chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh" được bố đặt trên bàn thờ mẹ Ninh ở Vân Hoàn.
Bố qua đời, sợ thất lạc vì nhà xưa không ai ở, ông đã thỉnh về Hà Nội. Và vì nó quá đặc biệt nên ông cất giữ kỹ lưỡng, cẩn thận qua nhiều lần chốt khóa. Bảo tàng Văn học Việt Nam rất muốn có hiện vật này nhưng ông phân vân bởi có ý định lập bảo tàng về bố tại gia đình...
Nhiều tác phẩm chưa đăngĐiều mong đợi nhất với chúng tôi là lúc giữa khuya ông Đán cẩn thận lấy ra các bản thảo bạc màu thời gian của bố. Thủ bút Mầu tím hoa sim (khóc vợ xấu số là Minh Đức Lê Đỗ Thị Ninh) nằm trong tập vở có in hình hai bé trai và gái vác xẻng lao động đề năm "49".
Đặc biệt, phần cuối bài thơ rất khác với bản lưu hành quen thuộc:
"... Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm...
Màu tím hoa sim tím tình tang lệ rớm
Trong tím màu hoa tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh sứt chỉ dù lâu
Ráng vàng ma
Và kèn rúc điệu quân hành vang vọng chập chờn
Theo bóng những binh đoàn biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh sứt chỉ dù lâu".
Có nhiều bài thơ nổi tiếng khác như Đèo Cả, Tục đèo Cả, Hoa lúa, Quách Xuân Kỳ, Thánh mẫu hài đồng thủ bút nhà thơ, nhiều chỗ sửa chữa, gạch xóa.
Đặc biệt, một tập khá dày dùng chỉ khâu gáy, mục lục trước bìa đề các tác phẩm: Khát vọng hiến dâng, Huyền thoại người trâu ngựa, Ác hoa và nấm độc, Bi khúc địa cầu, Một mảnh hồn quê, Trần trụi 87, Chuyện tôi về.
Một tập trường ca khác ghi trong tập vở kẻ ô li của học sinh đề "hoàn chỉnh" khoanh trong nét mực tròn, ghi các phần: "I: Giải khúc hoàng hôn, II: Cuộc tiễn đưa kỳ lạ, III: Chuyện đi về. Rồi trường ca Trần trụi 87 hành được quay ronéo dài, ông Đán cho biết do một người quen đánh giúp nên nhiều khả năng không phải độc bản mà có thể có một vài bản.
Qua các bản thảo mới biết Hữu Loan từng sáng tác rất nhiều câu đối, dịch nhiều thơ Pháp và thơ Đường. Đặc biệt hơn cả là nhiều trang viết nội dung đậm chất suy tưởng, tự sự về các học thuyết, triết học, tôn giáo, văn chương nghệ thuật và nhân tình thế thái...
Chúng tôi được cầm trên tay những bản thảo với nét bút bay bổng của thi sĩ tài hoa mà cảm xúc dâng trào. Người con trai tâm sự nhiều bài thơ trên được bố viết trong giai đoạn chu du Bắc - Nam cuối thập niên 1980. Nhiều bài trong đó viết các vấn đề thời sự, "chưa đăng và chưa đăng được"...
Gian trưng bày nhà thơ Hữu Loan tại Bảo tàng Văn học Việt Nam - Ảnh: THÁI LỘC
Xứng đáng được tôn vinh"Nhắc đến thơ ca kháng Pháp không thể không nhắc Hữu Loan với những bài thơ đi sâu vào lòng người. Nhà thơ sử dụng những bút pháp cũng như đề tài rất khác nhau. Từ tính chất hoành tráng, chiến đấu quyết liệt, đầy hào khí như bài Đèo Cả đến những bài trữ tình đắm đuối như Màu tím hoa sim.
Lại có những bài phảng phất tình yêu rất trong sáng như Hoa lúa. Những bài đó đã in vào tâm trí nhiều thế hệ, rất xứng đáng được tôn vinh"
Nhà thơ HỮU THỈNH (chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam)
"Cuối đời, bố tôi thường xuyên bảo: Tau thấy mẹ tau về. Kiểu như bố tôi cảm nhận bà nội tôi về rủ ông đi. Thấy chúng tôi thắp nhang lên bàn thờ mẹ Ninh ("nàng thơ" Mầu tím hoa sim), ông cũng dặn: Bọn bây nhớ cúng giỗ bà cho to vào".

