Làng Quan Nội – ký ức làng quê

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2019

“TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ?”:

“Đàn ông sợ vợ bỏ vì nghèo; phụ nữ sợ chồng bỏ khi giàu”.

Chuyện tiền nong, vật chất cũng là một thử thách không nhỏ trong cuộc sống hôn nhân. Nhưng liệu tiền bạc có phải là kẻ thù của hôn nhân?

Tiền nhiều để làm gì?

Trong phép thờ cúng, điều tối kỵ nhất là kinh động tới lư hương

Người Việt Nam xưa vẫn coi “bát hương” là linh thiêng nhất trên bàn thờ mỗi gia đình, hoặc “lư hương” là biểu hiện của cõi tâm linh trên bàn thờ Thần Phật. Qua “bát hương, lư hương” con cháu hướng lòng tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, các vị thần linh.

Bởi vậy, việc kinh động tới lư hương là điều tối kỵ.

Qua “bát hương, lư hương” con cháu hướng lòng tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, các vị thần linh.

Trong quan niệm của người phương Đông thì bát hương trên bàn thờ là vật thiêng liêng dành cho việc thờ cúng trong mỗi gia đình. Bàn thờ là nơi con cháu hướng về Phật pháp, các vị Thần linh và tổ tiên để cầu mong sự an khang thịnh vượng cũng như tỏ lòng hiếu thuận.

Trải qua biết bao thế hệ, truyền từ đời này sang đời khác, người ta coi việc thờ cúng, tưởng nhớ tiền nhân là điều thiêng liêng, không thể tùy tiện, càng không được xem thường, phỉ báng. Trên bàn thờ gia tiên, thứ không thể thiếu là bát hương, người miền Nam gọi là bát nhang, nhưng sự kính trọng với đồ thờ cúng này thì dù Bắc dù Nam đâu cũng như nhau.

Mỗi khi gia chủ thắp một nén hương thơm rồi cung kính cắm lên bát hương, cũng là lúc sợi dây vô hình giữa cõi tâm linh và cõi dương được thiết lập. Thần linh, gia tiên tiền tổ sẽ về ngự trị trên mỗi bát hương. Vì thế nếu bát hương uế tạp hoặc có những sự không hợp lẽ, sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến gia chủ.

Chúng ta thường có nhầm lẫn bát hương với lư hương. Lư hương cũng là đồ tế khí, dùng để thờ cúng, còn có tên là bộ tam sự: gồm 3 món: chiếc lư và cặp chân đèn (2 chiếc).

Tam sự thường được đúc bằng đồng, lư để đốt trầm hương, đặt chính giữa; chân đèn để thắp nến, đặt hai bên. Thường bàn thờ luôn có cả tam sự lẫn bát hương.

Đồ để thắp hương, cắm hương trên bàn thờ hằng ngày, hoặc khi kỵ nhật (ngày cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ), hoặc ngày lễ tết thường là bát hương.

Chỉ ở những nơi đình chùa miếu mạo, chỗ đặt tượng đài, nơi thờ cúng công cộng thì đồ để cắm nhang gọi là lư hương. Có những lư hương rất to, nặng, phải mấy người, thậm chí chục người khiêng mới nổi.

Dù ở trong nhà, trong nhà thờ, trong đình chùa, hay nơi tượng đài, thì lư hương, bát hương luôn được coi trọng bậc nhất. Sự kính cẩn đối với trời đất, thánh thần, tổ tiên, tiền nhân, anh hùng… được thể hiện ở thái độ với đồ tế khí, cụ thể là với bát hương, lư hương. Ngoài vấn đề tâm linh, tôn giáo, đây còn là đạo đức, ý thức, nhân cách của con cháu đối với thánh thần, tổ tiên.

Chính vì vậy, trong sách Việt Nam phong tục, nhà văn hóa lừng danh Phan Kế Bính có viết rằng: “Người xứ ta coi đồ thờ tự là đồ rất kính trọng, không ai dám đem cầm, đem bán bao giờ”

Dù ở trong nhà, trong nhà thờ, trong đình chùa, hay nơi tượng đài, thì lư hương, bát hương luôn được coi trọng bậc nhất.

Những nhà nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu tôn giáo, nhà phong thủy thường khuyên, nhắc nhở mọi người phải hết sức cẩn thận đối với đồ tế khí, nhất là không được để chúng uế tạp, dịch chuyển tùy tiện, đặt không đúng chỗ, lại càng không được tự ý thay đổi bát hương, nay cái này mai cái khác, nay có mai không.

Nếu ta chịu khó để ý, quan sát sẽ thấy ở những ngôi chùa luôn có chỗ thu gom các bát hương, tượng thờ cũ (mà các gia đình thay đổi bằng đồ mới) để làm phép “xử lý” cho phải đạo, đúng với sự tôn kính, thiêng liêng.

Đối với lư hương, bát hương, điều kỵ nhất là dịch chuyển. Bát hương, lư hương phải yên ổn, vững vàng. Nếu muốn lau chùi, làm sạch bát hương, cần chọn giờ giấc thích hợp, ngày tháng tốt lành, cúng lễ cẩn thận rồi mới được dịch chuyển.Mỗi lần thay bát hương cũ bằng một bát hương mới, người Việt gọi là “bốc lại bát nhang” người ta chỉ thực hiện khi về nhà mới, hoặc khi nhà gặp nhiều điều không may mắn, vận hạn, muốn được thay đổi.

Khi “bốc lại” bát hương, người ta đổ hết tro cũ trong bát ra, rồi rửa sạch bát hương trước khi bốc lại, bằng cách bốc lần lượt từng nắm tro cũ, đặt lại vào bên trong. Điều tối kỵ là cầm cả bát hương đổ hết dốc tro, cốt đi, thay bằng tro mới. Phải giữ cho bát hương không bị “uế tạp”. Sau khi bốc lại xong, phải thắp hương, đọc kinh để “an vị” bát hương.

Việc di chuyển một lư hương dù phải dùng xe cần cẩu, cũng phải nghiêm trang, kính cẩn. Người Việt tin rằng người “bốc bát hương” mà lòng không hướng về điều thiện, thì bát hương không “linh!”

Một bát hương “linh” nghĩa là gì? Là khi chúng ta thắp hương, khấn khứa, thì vong linh người hoặc được thờ sẽ “về lại cõi dương trần” với con cháu. Một bát hương “không linh” khi người được thờ không chấp nhận. Vì thế, dù thắp hương và khấn khứa cũng không “về”.

Trong văn hóa thờ cúng, kể từ khi lư hương được an vị thì mỗi năm, chỉ duy nhất một ngày được dọn dẹp làm sạch lư hương. Thường người ta chọn 23 tháng Chạp, sau khi cúng dâng lễ quan san (tiễn đi xa) cho Táo công. Nếu không dọn dẹp ngày 23 mà chọn một ngày khác (cũng chỉ trong từ 24 đến 30 tháng Chạp, trước lúc làm lễ tẩy trần cho Táo công) thì đêm trước phải làm lễ cầu xin trước.Một năm, trừ lễ dọn dẹp làm sạch bát hương ra, tuyệt nhiên không được làm kinh động. Tức là không được xê dịch, xoay hướng lư hương… Khi lư hương bị động thì tai họa cho gia chủ cũng tương tự như động mồ. Nói như vậy để thấy lư hương phải gắn với tượng đài và lư hương luôn luôn phải được an vị. Động lư hương, động mồ ắt sẽ có hậu quả thật khó lường.

Người xưa cho rằng, sự thay đổi vị trí bát hương, lư hương một cách tùy tiện thường gây ra những xáo trộn, suy sụp gia đạo, đời sống, làm ăn, sinh hoạt… Cứ như các cụ từng dạy: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, đừng phá bỏ những “nguyên tắc” của tổ tiên, nhất là những điều chưa thể dùng thực tiễn và khoa học để chứng minh sự đúng sai.

Chủ nghĩa duy vật, thái độ vô thần đã và đang tồn tại trong xã hội, trong cuộc sống con người. Không ai bắt ai phải có đức tin thế này thế kia, điều này điều kia. Vì vậy, cũng đừng vì vô thần, duy vật, vì lý do này nọ mà xâm hại những phong tục tốt đẹp, tín ngưỡng thiêng liêng, đặc biệt những vấn đề, những điều về cuộc sống tâm linh.

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

LỬA ĐÃ CHÁY VÀ MÁU ĐÃ ĐỔ TRÊN KHẮP DẢI BIÊN CƯƠNG

Ngày 17/2/1979 tôi đang ở nhà tập thể Ty Ngoại Thương Nghệ Tĩnh thì sửng sốt nghe đài phát thanh tiếng nói VN phát đi thông tin: vào 4 giờ 17 phút Trung Quốc bất ngờ đưa hơn nửa triệu quân cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới tràn qua biên giới Việt Nam, đồng loạt tấn công 6 tỉnh phía Bắc từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) trên chiều dài 1.200 km.

Giữa lúc nhân dân vùng biên giới Hoàng Liên Sơn đang ngủ ngon thì bất thình lình hàng loạt đạn đại bác từ phía Bắc giội tới làm khắp biên giới bốc lửa ngùn ngụt. Hàng loạt quả đại bác thi nhau trút xuống thị xã Lào Cai, Cốc Lếu, nhằm thẳng các cơ quan, nhà máy…".

Bất ngờ trước sự tấn công của quân Trung Quốc, người dân thị xã Cao Bằng ngược đường quốc lộ, băng rừng di tản về hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên. Giữa dòng người tản cư đó có nhiều trẻ em cõng nhau chạy nạn.

Nhà trẻ thị xã Cao Bằng chỉ còn là đống đổ nát;

Trâu bò bị giết dọc đường quân Trung Quốc đi qua.

Anh Nông Văn Ất ở xã Hưng Đạo (Cao Bằng) bật khóc khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài về cái chết của vợ con. Chị Nguyễn Thị Hải, vợ anh đang mang bầu 6 tháng cùng bốn đứa con, lớn nhất 10 tuổi, nhỏ nhất 3 tuổi đều bị giết chết rồi ném xuống giếng.

Chị Nông Thị Ty, người dân thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo còn sống sót sau trận càn quét của quân Trung Quốc trả lời nhà báo Tiệp Khắc (Dunai Péter Hunggari?). Tại thôn này, 43 dân thường gồm người già, trẻ em, phụ nữ mang thai bị giết hại.

Không khí lúc đó sôi sục, chúng tôi được lệnh tập quân sự, đào hào chiến đấu, học bắn, lăn lê bò toài như bộ đội, thành lập tổ dân quân sẵn sãng chiến đầu với quân Trung Quốc xâm lược, sẵn sàng cho chiến tranh bảo vệ tổ quốc

Bài hát Chiếu đấu vì độc lập tự do của nhạc sĩ Phạm Tuyên mà mà chúng tôi được nghe những tháng ngày đó tạo nên cảm xúc sôi sục căm thù cho mỗi người dân Việt Nam, ăn sâu, thấm đẫm vào trong tim khí thế hừng hực sẵn sàng chiến đấu chống quân Trung quốc xâm lược biên giới phía bắc. Bây giờ nghe lại, trong tim tôi vẫn như sống lại khí thế hừng hực, bài hát có ca từ:

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới
Gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới
Quân xâm lược bành trướng dã man
Đã dày xéo mảnh đất tiền phương
Lửa đã cháy và máu đã đổ, trên khắp dải biên cương.

Giai điệu và ca từ hùng tráng của bài hát đã thúc giục triệu triệu người Việt Nam lên đường chiến đấu bảo vệ sự toàn vẹn của tổ quốc trước kẻ thù xâm lược. Đây cũng là bản nhạc đầu tiên thuộc “dòng nhạc chiến tranh biên giới 1979”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã khắc tên mình vào thời khắc bi tráng của lịch sử đất nước.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên từng chia sẻ vào thời điểm tháng 2.1979, ông đang phụ trách âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đên 17.2, ông đã lặng người khi nghe tin Trung Quốc xua quân xâm chiếm 6 tỉnh biên giới phía bắc. Ngay trong đêm hôm đó bài hát đã được ra đời, ông nói:

“Tôi viết rất nhanh. Ngay trong đêm 17, sáng ngày 18, bài hát Chiến đấu vì độc lập tự do với câu mở đầu “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới” được Đài Tiếng nói Việt Nam thu thanh. Ngày 20.2.1979 - tức là sau 4 ngày kể từ khi quân xâm lược thêm một lần nữa giày xéo mảnh đất này, bài hát được phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam”, nhạc sĩ Phạm Tuyên bồi hồi nhớ lại.

Thế nhưng, bài hát mang tính lịch sử của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng có số phận khá đặc biệt. Sau khi cuộc chiến tranh biên giới kết thúc và nhiều năm sau đó, theo dòng chảy của thời cuộc, Chiến đấu vì độc lập tự do của ông cùng một số bài hát thuộc “dòng nhạc chiến tranh biên giới 1979” đã không còn được lưu hành rộng rãi trên các các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí có nhà xuất bản muốn in bài hát này nhưng đề nghị sửa lại hoặc bỏ một số từ, đã bị nhạc sĩ Phạm Tuyên thẳng thừng từ chối.

Dù thế, 40 năm trôi qua, kể từ ngày "Lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải biên cương", âm hưởng của bài hát Chiến đấu vì độc lập tự do vẫn giữ được sức sống mãnh liệt và tồn tại trong lòng đất nước, nhân dân.

Mỗi độ tháng 2 về, từ những người người chứng kiến, tham gia chiến đấu chống quân xâm lược Trung Quốc, bảo vệ biên giới phía bắc cho đến những người trẻ tuổi, trên các phương tiện cá nhân, mạng xã hội, khúc ca hùng tráng của nhạc sĩ Phạm Tuyên lại vang lên.

New York Times: Cựu binh Trung Quốc 'vỡ mộng' về cuộc xâm lược phi nghĩa 1979, trong khi chính phủ họ cố gắng chôn vùi

Tạp chí Mỹ Foreign Policy trong một bài viết phân tích về quân đội Trung Quốc tháng 11/2018 viết, 40 năm trước, quân đội Việt Nam đã phá hủy cuộc xâm lược của Trung Quốc và bóng ma thất bại này khiến Trung Quốc chọn cách phớt lờ cuộc xâm lược từng thực hiện trong khi nhiều cựu binh cảm thấy “vỡ mộng” về cuộc chiến họ đã tham gia.

Foreign Policy đính kèm bài viết của nhà báo Mỹ Howard W. French, đăng trên báo in New York Times năm 2005 nói về sự bành trướng của Trung Quốc khi đưa quân xâm lược các tỉnh biên giới Việt Nam tháng 2/1979.

VTC News lược dịch theo bản điện tử được New York Times lưu trữ:

Tại Ma Lật Pha, Vân Nam, Trung Quốc, sau khi đi lên những bậc thang đá dốc đứng, du khách lần đầu đến thăm ngạc nhiên khi nghĩa trang của các cựu binh nằm ngoài thị trấn cuối cùng đã xuất hiện. Phóng tầm mắt ra xa, những lối đi uốn lượn trên triền đồi xếp hàng nối hàng sau các ngôi mộ, mỗi mộ là một bia bê tông có một ngôi sao lớn màu đỏ, một cái tên và một dòng chữ.

Tuy nhiên cả Long Chaogang và Bai Tianrong, đều không phải lần đầu đến đây. Hai cựu binh trong cuộc chiến của Trung Quốc với Việt Nam, bắt đầu với trận chiến dữ dội giữa tháng 2/1979, thỉnh thoảng lại trở về tìm kiếm ngôi mộ của những người bạn đã mất.

Trong hơn một giờ đồng hồ, họ trèo lên xuống sườn núi vắng vẻ gần biên giới Việt Nam, tìm kiếm một cách vô vọng trong số những cái tên của 957 binh sỹ được chôn ở đây, sau dừng lại và châm thuốc đặt lên mộ một đồng đội.

Sự im lặng đang bao trùm nơi này cũng giống như cuộc chiến bị “cố ý chôn vùi” ở Trung Quốc. Chỉ có những cơn gió thi thoảng xào xạc thổi qua rặng tre ở nghĩa trang. Bằng tính toán chính thức, 20.000 người Trung Quốc đã chết trong tháng đầu tiên của cuộc chiến, khi lực lượng Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam và đối mặt với sự phản kháng mạnh mẽ. Nhiều người khác chưa được nhắc đến đã chết khi các xung đột tiếp tục kéo dài đến những năm 1980.

Từng đó năm trôi qua, không có mấy bộ phim, tiều thuyết hay hồi ký Trung Quốc nhắc đến những gì các binh sỹ và gia đình của họ phải chịu đựng. Không còn di tích nào nhắc đến cuộc chiến rõ ràng hơn các nghĩa trang thường tìm thấy ở khu vực biên giới xa xôi như thế này.

Bản thân nhiều cựu binh cũng khó nói ra tại sao họ lại chiến đấu trong cuộc chiến đó. Phần lớn chần chừ thảo luận với người ngoài cuộc, thậm chí cự tuyệt nói ngay cả với người trong gia đình.

Khi được hỏi tham gia cuộc chiến là vì điều gì, Long Chaogang, 42 tuổi, từng là lính bộ binh Trung Quốc đáp “tôi không biết”. Khi được hỏi ông đã giải thích về cuộc chiến tham gia trong quá khứ cho gia đình như thế nào, ông kể có một lần con gái 12 tuổi hỏi, và ông chỉ nói “đó không phải việc của con”.

“Sự lãng quên với quy mô lớn” như vậy không phải là hành động thụ động. Đó là sản phẩm của những nỗ lực cứng rắn và không ngừng nghỉ của chính phủ Trung Quốc nhằm kiểm soát thông tin, đặc biệt là thông tin lịch sử. Học sinh Trung Quốc ngày nay đọc sách thường không thấy nhắc đến cuộc chiến.

Các tác giả tìm cách đi sâu vào lịch sử cuộc chiến này thường xuyên bị từ chối xuất bản. Năm 1995, một tiểu thuyết về cuộc chiến – “Traversing Death” (Tạm dịch: Đi qua cái chết) được kỳ vọng giành giải thưởng quốc gia nhưng bất ngờ bị loại khỏi cuộc thi mà không có lời giải thích.

Việc nhà chức trách Trung Quốc quá sốt sắng trong việc kiềm chế các cuộc tranh luận có lẽ là do cuộc chiến đẫm máu mà nước này thực hiện với Việt Nam đi ngược lại với câu chuyện mà chính phủ Trung Quốc ngày nay đang ra sức tuyên truyền: Trung Quốc là một nước không bao giờ đe dọa hay tấn công các nước láng giềng và về một sự lãnh đạo thận trọng không thể sai lầm.

Cái tên được Trung Quốc gán cho cuộc bành trướng 1979 – “tự vệ và phản công chống chiến tranh Việt Nam” là minh chứng rõ ràng nhất Bắc Kinh đang cố gắng củng cố quan điểm này.

Các nhà sử học cho rằng việc Trung Quốc bắt đầu hành động thù địch nằm ngoài cả mục đích tranh chấp và xung đột diễn ra hoàn toàn trên đất Việt Nam. Nhiều nhà sử học cũng đánh giá chung rằng nếu cuộc chiến không phải là một thất bại hoàn toàn của Trung Quốc thì cũng là một cuộc chiến phải trả giá đắt với những mục đích đáng ngờ, trong đó có cái gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học” do đã lật đổ Pol Pot, nhà lãnh đạo của chính quyền Khmer Đỏ ở Campuchia, một trong những kẻ bạo chúa gây ra thảm họa diệt chủng đẫm máu nhất thế kỷ 20 và cũng là một đồng minh của Trung Quốc thời đó.

Đến nay, các cựu binh Trung Quốc thường bám vào những lời giải thích này nhưng cũng phẫn nộ về việc bị sử dụng làm bia đỡ đạn trong một trò chơi chính trị ích kỷ.

“Chúng tôi hy sinh cho mục đích chính trị và không chỉ có tôi cảm thấy như vậy – nhiều đồng đội cũng thế, chúng tôi liên lạc với nhau qua Internet” – Xu Ke, một cựu lính bộ binh tự thuật trong một cuốn sách tự xuất bản về cuộc xung đột Trung – Việt năm 1979, “The Last War” (Tạm dịch: Cuộc chiến cuối cùng). Ông Xu, hiện đang làm thiết kế nội thất ở Thượng Hải, cho biết đã đi khắp đất nước bằng chi phí của mình để nghiên cứu cuốn sách và nhận thấy rằng các tài liệu tại hết thư viện này đến thư viện khác về cuộc chiến đã bị loại bỏ. Một sách yếu lược về những năm 1980, hoàn chỉnh đến nỗi có lời bài hát của những bài hát nổi tiếng nhất thập kỷ bấy giờ, nhưng không nói gì về cuộc xung đột.

Cuộc chiến đã tạo ra một ngôi sao văn hóa đại chúng. Ca sĩ tên Xu Liang, người bị mất một chân trong cuộc chiến, trở thành anh hùng và thần tượng khi xuất hiện trên truyền hình quốc gia, ngồi trên xe lăn trong bộ quân phục và hát về đức hy sinh cá nhân.

Ca sĩ Xu (người không liên quan đến tác giả của "Cuộc chiến cuối cùng") đã tiếp tục thực hiện hơn 500 cuộc nói chuyện trên khắp đất nước trước khi không còn xuất hiện trước công chúng vào khoảng năm 1990, ngay sau khi những xung đột kết thúc.

Ngày nay, ông ta thay đổi đến nỗi nói với những người vô tình nhận ra ông ta trên đường phố Bắc Kinh rằng họ đã nhầm lẫn. Khi được hỏi liệu cuộc chiến có chính đáng không, ông nói “các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã sử dụng Việt Nam như một kẻ thù thuận tiện để dập tắt xung đột nội bộ”.

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2019

Dư luận Trung Quốc nói về Chiến tranh Tháng 2 năm 1979

Đầu hàng tập thể - Sự ô nhục chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc (Phần 4)

Thu Thủy / Thứ Bảy, ngày 16/2/2019

VietTimes Chiều ngày 16.3.1979, Chính phủ Trung Quốc tổ chức họp báo tại Bắc Kinh về cái gọi là “Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam”. Các nhà báo Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa không đến dự, còn các nhà báo phương Tây thì đều có mặt. Điều này thể hiện các nước phương Tây khi đó rất quan tâm đến tình hình chiến sự cụ thể vì họ đã nghe được đủ loại tin nhưng không được kiểm chứng, nên đều bị coi là tin đồn không đáng tin; nay Trung Quốc tổ chức họp báo thông tin về tình hình chiến sự đánh Việt Nam nên họ ùn ùn kéo đến…

Đại đội 8, Tiều đoàn 2, Trung đoàn 448, Sư đoàn 150, Quân đoàn 50,
Đại quân khu Thành Đô sau khi đầu hàng tập thể quân dân Cao Bằng.

Dư luận Trung Quốc về Chiến tranh Tháng 2 năm 1979: Một cuộc chiến vô nghĩa, trái đạo lý và thảm bại (Phần 1)

Tại cuộc họp báo, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Hoa tuyên bố: “Quân đội chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ tác chiến ở biên giới phía Nam và đã rút hết về nước!”. Dừng vài giây, Hoàng Hoa nói tiếp: “Hiện không còn bất cứ một người lính nào trên đất Việt Nam nữa!”.

Nhưng thực tế, trong số hơn nửa triệu binh lính, dân binh, quân dự bị tham gia trận chiến này, vẫn còn mấy trăm người hiện đang không rõ tung tích. Trên chiến trường, không rõ tung tích có nghĩa thế nào thì ai cũng biết. Nên trong các buổi truy điệu, họ đều được coi là tử sĩ. Ngoài ra, còn có 239 người khi đó đang bị Việt Nam giam giữ trong các trại tù binh. Trong số đó, có nguyên vẹn một đại đội sau khi bị bao vây, mất liên lạc với trên đã họp chi bộ với sự có mặt của các cán bộ cấp trên và ra nghị quyết đầu hàng tập thể. Vụ này được coi là “sự kiện nhục nhã nhất” trong lịch sử quân đội Trung Quốc (PLA).

Vụ việc này nhiều lần được báo chí bàn luận, mổ xẻ, phân tích trong suốt nhiều năm qua, mới nhất là trên trang Tin hàng đầu mỗi ngày (kknews.cc) các ngày 1.5.2018, 22.7.2018, ngày 9.11.2018; news.qq.com ngày 21.4.2018, trang DWNews ngày 28.4.2018 và Sohu.com ngày 6.9.2018.

Toàn bộ Đại đội 8 và các sĩ quan sở chỉ huy
tiền phương của Trung đoàn 448 bị dẫn giải về trại giam

“Trận chiến nhục nhã nhất” là nhan đề bài báo đăng trên mạng “Chiến lược” Trung Quốc (Chinaiiss.com) ngày 12.11.2013. Bài báo cho rằng đây là vết nhơ, sự kiện ô nhục trong lịch sử quân đội Trung Quốc. Trang Sohu.com ngày 6.9.2018 cũng chạy tiêu đề “Trận nhục nhã nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh, sau khi về nước Trung đoàn trưởng bị tống giam, Phó tư lệnh quân đoàn bị bãi chức”. Trang Tin tức hàng đầu mỗi ngày thì viết: Tuy Trung Quốc tuyên bố đã giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh này, nhưng lại lựa chọn cách quên nó đi.

Trong chiến tích được công bố, phần thương vong không hề đả động đến những người bị bắt. Theo ghi chép về trao đổi tù binh dưới sự trung gian của Hội Chữ thập đỏ quốc tế thì số lính Trung Quốc bị phía Việt Nam bắt làm tù binh tổng cộng 239 người, trong đó có 219 người ở cùng một trung đoàn. Phía sau 219 tù binh này là sự kiện đầu hàng có tính chất xấu xa nhất trong lịch sử đạo quân mang tên “Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc – PLA”.

Theo thông tin trên báo chí Trung Quốc, “sự kiện nhục nhã chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc” này diễn ra như sau:

Trước khi xảy ra cái gọi là “Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam” sư đoàn 150, quân đoàn 50 của Quân khu Thành Đô được khẩn cấp mở rộng biên chế từ sư đoàn loại B nâng lên thành sư loại A, được bổ sung thêm nhiều cựu binh đã qua rèn luyện điều động từ các đơn vị phía Bắc xuống và số lớn tân binh mới nhập ngũ, quân số từ hơn 6.000 tăng vọt thành hơn 11.000 người. Cán bộ các cấp phần lớn chưa có kinh nghiệm chiến đấu, sĩ quan chỉ huy cấp đại dội, trung đội đều mới được đề bạt. Tuy đã được huấn luyện khẩn cấp trước khi xảy ra chiến tranh nhưng chất lượng quân sự chưa được kiểm nghiệm. Sư đoàn trưởng là Lưu Đồng Sinh, Chính ủy Dương Chấn Đạo, sư đoàn 150 gồm 3 trung đoàn bộ binh có phiên hiệu 448, 449, 450 và trung đoàn pháo binh.

Ngày 21.2.1979, sư đoàn 150 hành quân bằng xe lửa và ô tô từ Tứ Xuyên vượt qua 3.000km tới mặt trận Quảng Tây, tập kết tại các khu vực Ninh Minh, Minh Giang trước ngày 5.3 làm nhiệm vụ dự bị, đề phòng quân đội Việt Nam đánh sang. Sau khi chính phủ Trung Quốc tuyên bố rút quân, hầu hết sư đoàn 150 (trừ trung đoàn pháo binh) nhận lệnh của Sở chỉ huy tiền phương Quân khu Quảng Châu vượt biên sang Việt Nam qua cửa khẩu Thủy Khẩu làm nhiệm vụ càn quét ở phía Tây Cao Bằng dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh quân đoàn 41. Để giúp phối hợp với đơn vị bạn và tăng cường chỉ huy, quân đoàn 50 đã cử hai Phó tư lệnh quân đoàn là Quan Khoát Minh, Lâm Trung Hòa và Phó chính ủy Hầu Bồi Tụ lập thành tổ công tác về nằm vùng tại sư đoàn 150.

Tù binh Trung Quốc xếp hàng đi ăn cơm trong trại. Ảnh tư liệu.

Sáng 7.3, trung đoàn 448 vào đến thị xã Cao Bằng theo đường số 3 qua cửa khẩu Thủy Khẩu sang Tà Lùng, huyện Phục Hòa, ít giờ sau tổ công tác nằm vùng của Quan Khoát Minh cũng tới. Theo hiệp đồng với quân đoàn 41 thì sư đoàn 150 được giao nhiệm vụ trong vòng 7 ngày phải càn quét, lùng sục tiêu diệt đối phương, tìm kiếm các kho vật tư của đối phương (nói trắng ra là cướp bóc, vơ vét của cải) và tìm kiếm, thu dung lính Trung Quốc bị thương, tử trận... trong khu vực phía tây Cao Bằng rộng 280km2 mà sư đoàn 121, quân đoàn 41 đã bị quân dân Việt Nam đánh cho tơi tả trước đó.

Trung đoàn 448 được khẩn cấp nâng từ loại B lên loại A trước khi xảy ra chiến tranh, cán bộ chỉ huy các cấp đều chưa qua đánh trận. Ê-kíp chỉ huy bao gồm: trung đoàn trưởng Lý Thiệu Văn, Chính ủy Lý Triệu Bích, 3 trung đoàn phó: Hồ Khánh Trung, Lan Văn Bân, Vương Bảo Nhân, 3 phó chính ủy: Long Đức Xương, Điền Văn Siêu, Vương Khiêm Trí và Tham mưu trưởng Cao Lập Hoa, Tham mưu phó Phó Bồi Đức còn có 3 trung đoàn bộ binh và 5 đại đội trực thuộc, tổng quân số hơn 2.500 người.

Trong 3 ngày từ 7 đến 10.3, hoạt động của sư đoàn 150 được đánh giá là “hoàn thành nhiệm vụ”. Tối 10.3, quân đoàn 41 ra lệnh cho sư 150 ngừng tiến công, trong vòng 3 ngày phải tiến theo hướng Bắc vừa truy quét đối phương vừa hành quân về nước, ngày 14.3 phải rút về nước qua đường Bình Mãng (tức hướng Sóc Giang, Hà Quảng). Tuy nhiên khi lựa chọn đường rút về, giữa Phó tư lệnh quân đoàn 50 Quan Khoát Minh và Sư đoàn trưởng 150 Lưu Đồng đã bộc lộ mâu thuẫn. Lưu Đồng cho rằng đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ nên cứ rút quân theo đúng đường cũ đã sang (tức quốc lộ 3 qua cửa khẩu Tà Lùng), về nước an toàn là thắng lợi.

Còn Quan Khoát Minh lại cho rằng sư đoàn 150 chưa hoàn thành nhiệm vụ tìm diệt sinh lực và lùng sục tìm kiếm kho tàng của Việt Nam, nếu rút quân về theo hướng bắc hướng Thiên Phong Lĩnh thì có thể mở rộng chiến quả (vơ vét được nhiều của cải hơn). Hai bên mâu thuẫn gay gắt, không ai chịu ai. Sau khi biết tin, Bộ Tư lệnh quân đoàn 41 đã gửi điện ra lệnh cho sư đoàn 150 rút về theo đường cũ; nhưng bức điện quan trọng đã mã hóa đó đã bị một nhân viên cơ yếu sơ xuất hủy đi mà không dịch ra. Vì thế, cuối cùng Quan Khoát Minh đã ra lệnh cho sư đoàn chia làm 3 cánh rút về theo hướng Bắc như ý ông ta.

Hai trung đoàn 449 và 450 rút quân khá trót lọt, nhưng trung đoàn 448 thì không may mắn như họ. Theo ý Quan Khoát Minh, để thu được thêm nhiều vật tư, hàng hóa của Việt Nam thì phải “vạch cỏ đánh Thỏ” nên đã chia thành 2 cánh vừa rút vừa lùng sục tìm kiếm kho tàng trong các hang động

Sáng 11.3, cánh Tây của tiểu đoàn 2 gồm đại đội 8 đặc nhiệm có Sở chỉ huy tiền phương trung đoàn 448 với Trung đoàn trưởng Hồ Khánh Trung và Phó chính ủy Long Đức Xương đi kèm bị quân đội Việt Nam tập kích ở thôn Nà Ca (xã Minh Tân, huyện Nguyên Bình). Quân Việt Nam không đông, nhưng chiếm được địa thế có lợi, dùng súng máy bắn quét. Phía Trung Quốc bất ngờ, không kịp trở tay nên thương vong nặng nề.

Trung đoàn báo cáo lên trên, xin cứu viện. Sư đoàn 150 thấy tình hình nghiêm trọng nên đồng ý, định lệnh cho 2 trung đoàn 449, 450 quay lại cứu viện, nhưng bị tổ công tác của quân đoàn 50 bác bỏ, cho rằng tiểu đoàn 2 có thể tự phá vây được, chỉ đồng ý để trung đoàn 448 cử 2 đại đội do Tham mưu phó trung đoàn Phó Bồi Đức chỉ huy quay lại hỗ trợ phá vây, nhưng cả 2 đại đội này đều bị quân dân Việt Nam phục kích, đánh cho tan tác...

Sau mấy ngày bị bao vây, tiểu đoàn 2 và Sở chỉ huy tiền phương của trung đoàn 448 bị đánh tơi tả, đạn dược lương thực cạn dần, không thấy quân cứu viện đến, tinh thần binh sĩ sa sút nghiêm trọng, triệt để mất ý chí chiến đấu chỉ biết co cụm chờ cứu viện. Ngày 13.3, Quân đoàn 41 được báo cáo tình hình một bộ phận trung đoàn 448, sư đoàn 150 bị bao vây, đã lệnh cho các đơn vị gần đó tới cứu viện, nhưng có đơn vị chưa đến nơi đã quay đầu. Sau này, có tin Quân ủy Trung Quốc cho rằng trung đoàn 448 bị bao vây ở vùng núi non hiểm trở, không huy động lực lượng lớn thì khó giải vây. Mà lúc này Trung Quốc đã tuyên bố rút quân, nếu triển khai hành động quân sự quy mô lớn sẽ gây ảnh hưởng xấu trên quốc tế nên đã ra lệnh các đơn vị cứu viện quay về.

Ngày 19.3.1979, Phó Bồi Đức, Long Đức Xương và các cán bộ chỉ huy gồm đại đội trưởng, chính trị viên đại đội 8, tiểu đoàn 2 đã tổ chức họp chi bộ đảng mở rộng, ra nghị quyết “quyết định hạ vũ khí, kéo cờ trắng cả tập thể ra đầu hàng quân đội Việt Nam”. Đây được cho là điều chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc từ xưa đến nay.

Tấm ảnh đã trở thành biểu tượng cho sự thất bại của phía Trung Quốc trong Chiến tranh Tháng 2 năm 1979

Sau này khi tổng kết, chỉ riêng trong trận Nà Ca, Lãng Trang này, trung đoàn 448 bị tập kích thất lạc cả thảy 542 người, để mất vào tay đối phương 407 khẩu súng các loại, 202 người bị bắt làm tù binh, trong đó có Phó chính ủy Long Đức Xương, Tham mưu phó Phó Bồi Đức, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, đại đội trưởng, chính trị viên đại đội 8 cùng các cán bộ đại đội, trung đội... Số còn lại đều bị chết hoặc mất tích.

Sau chiến tranh, Dương Dũng, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đích thân dẫn đoàn cán bộ xuống quân đoàn 50 điều tra, tổng kết, xử lý vụ việc được coi là “ô nhục chưa từng có trong lịch sử quân đội” này. Phó tư lệnh quân đoàn Quan Khoát Minh bị kỷ luật cách chức, giáng cấp xuống cấp sư đoàn, trong quyết định kỷ luật ghi rõ: “tham sống sợ chết”, Phó tư lệnh Lâm Trung Hòa bị giáng chức, Phó chính ủy Hầu Bồi Tụ bị cảnh cáo trong đảng, các cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn, trung đoàn cũng bị kỷ luật hoặc điều chỉnh. Vụ việc được đưa thành giáo trình phản diện điển hình của việc tăng cường chỉ huy trong quân đội.

Từ tháng 5 đến tháng 6.1979, hai nước Trung – Việt tiến hành 5 đợt trao trả tù binh tại cửa khẩu Hữu Nghị nằm giữa Lạng Sơn và Quảng Tây. Đến ngày 22.6.1979, 239 tù binh Trung Quốc (thực ra là 238 người và hài cốt 1 tù binh bị chết trong trại do bị thương) đã được Việt Nam trao cho phía Trung Quốc. Tất cả họ bị đưa về “Lớp học tập” ở sân bay Ngô Vu ở ngoại ô Nam Ninh để thẩm tra, một số cán bộ chỉ huy có trách nhiệm trong vụ đầu hàng tập thể của trung đoàn 448 bị xử lý kỷ luật và chuyển cho tòa án quân sự trừng phạt. Lý Hòa Bình, đại đội trưởng và Phùng Tăng Mẫn, chính trị viên Đại đội 8 đặc nhiệm thuộc Tiểu đoàn 2 bị nhận án 10 năm tù giam vì tội “phản bội đầu hàng”.

Về biên chế tổ chức, trong đợt điều chỉnh biên chế quân đội năm 1985, quân đoàn 50 và Sư đoàn 150 với 4 trung đoàn trực thuộc cũng bị xóa phiên hiệu, vĩnh viễn không tồn tại trong biên chế của quân đội Trung Quốc nữa.

Lời kết: …... Chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc Tháng 2.1979 là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử, cần phải được nhìn nhận với sự thật đầy đủ. Cần thiết phải nhắc để nhân dân ta và các thế hệ sau ghi nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chiến tranh bảo vệ biên giới Tháng 2.1979 không thể bị lãng quên.
Cần phải đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa và cuộc Chiến tranh biên giới phía Bắc. Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống. Chúng ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù. Mọi người dân Việt Nam cần được biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

Tranh chấp chủ quyền

Góc nhìn

LTS: Tác giả Trần Sơn Lâm, từng là người lính trong chiến tranh vệ quốc cuối thế kỷ 20, đồng thời là nhà khoa học. Khi hòa bình lập lại, ông tham gia công tác chính quyền và nhiều năm nắm giữ vị trí Hàm vụ trưởng, Vụ khoa giáo-văn xã của Văn phòng Chính phủ. Với kinh nghiệm thực tế và dưới nhãn quan của một nhà nghiên cứu khoa học, ông đã viết bài báo này gửi riêng cho Báo Giáo dục Việt Nam với mục đích góp thêm một góc nhìn mới của tác giả về giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta và Trung Quốc, hiện rất căng thẳng kể từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trên biển Đông.

Việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan 981 tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam đã gây nên một cuộc khủng hoảng tồi tệ trong quan hệ giữa 2 nước.

Trung Quốc hạ đặt bất hợp pháp giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, bất chấp luật pháp và dư luận quốc tế.

Lâu nay lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta cũng vẫn luôn mong muốn giữ quan hệ hữu nghị giữa hai nước theo phương châm 16 chữ và 4 tốt để có môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.

(GDVN)- Năm 1972, trong lúc mà Hà Nội bị ném bom rải thảm, các học giả phương tây đã bình luận rằng: "Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng".

Tuy nhiên đại đa số quần chúng nhân dân tin rằng phải đặt mối quan hệ giữa hai nước Việt - Trung trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng chủ quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, cần giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế mà các nước đã tham gia ký kết.

Qua vụ giàn khoan 981, các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện sự lắng nghe, tiếp thu những tâm tư tình cảm này của nhân dân và đã có những phản ứng kịp thời, phù hợp, đúng luật pháp quốc tế nhưng vẫn đanh thép trước Trung Quốc.

Trung Quốc từng giúp Việt Nam, nhưng cũng từng bán đứng và xâm lược Việt Nam

Chúng ta cũng cần nhìn nhận một sự thật là người dân Việt Nam hay Trung Quốc đều luôn mong muốn hòa bình và không có chiến tranh. Với Việt Nam đã liên tục trải qua những năm chiến tranh khốc liệt, hơn ai hết lại càng khát khao hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển.

Tuy nhiên dường như những nhà lãnh đạo Trung Quốc không phải ai cũng có mong muốn ấy. Họ luôn giữ tâm thái nước lớn, bao giờ cũng muốn các nước khác phải theo mình, sẵn sàng làm mọi thứ có lợi cho mình mà coi thường, chà đạp ích chính đáng, hợp pháp của dân tộc khác.

“Màu đồng chí” không chỉ đơn thuần là màu đỏ trên lá cờ mà còn là màu đỏ của máu hàng vạn người dân Việt Nam.

Là một nước láng giềng cạnh Trung Quốc, Việt Nam bao đời này luôn là mục tiêu nhòm ngó của các triều đại phong kiến, cho đến bây giờ lãnh đạo của họ vẫn không thôi âm mưu thôn tính lãnh thổ, lãnh hải nước ta.

Việc nhân dân Trung Quốc từng giúp Việt Nam trong kháng chiến giành độc lập và thống nhất Tổ quốc, chúng ta ghi nhận và biết ơn họ đã nhường cơm, xẻ áo cho chúng ta trong những năm chiến tranh ác liệt. Nhưng chúng ta cũng cần ghi nhớ rằng, chính những người lãnh đạo Trung Quốc cũng có mục đích dùng Việt Nam làm lá chắn để Mỹ và phương Tây không áp sát được biên giới Trung Quốc, dùng Việt Nam làm tiền đồn để Trung Quốc chống Mỹ.

Năm 1972 Mao Trạch Đông và Richad Nixon đã thỏa thuận, đổi chác lợi ích ngay trên lưng Việt Nam.

Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, Trung quốc đã không ép được ta theo họ chống Liên Xô. Năm 1972, Mao Trạch Đông đã gặp Richard Nixon, và sau cuộc gập này Mỹ đã thực hiện phong tỏa toàn bộ đường biển của Việt Nam và ném bom ác liệt nhằm đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá bằng máy bay B 52.

Năm 1974, với sự bật đèn xanh của Mỹ, Trung Quốc đã cất quân xâm lược, đánh chiếm nốt phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thời điểm đó đang do chính phủ Việt Nam Cộng hòa đại diện dân tộc Việt Nam quản lý chờ ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Geneva năm 1954 mà chính Trung Quốc cũng tham gia ký kết, nhiều quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc trước ngoại bang.

Năm 1975 Việt Nam thống nhất, diễn biến này xảy ra quá nhanh chóng và ngoài ý muốn của Trung quốc. Một lần nữa, khi không ép buộc được Việt Nam thay đổi đường lối độc lập tự chủ, chống Liên Xô, Trung Quốc đã tìm mọi cách gây chia rẽ giữa Việt Nam và Campuchia, kích động hằn thù dân tộc, giật dây Khơ Me Đỏ gây chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam với ta suốt từ năm 1975 đến 1979 giết hại hàng vạn người dân vô tội.

Đỉnh cao của tư tưởng Sô vanh Đại Hán, tháng 3/1979 lãnh đạo Trung Quốc đã xua 60 vạn quân tấn công toàn bộ tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, giết hại hàng chục vạn dân thường vô tội mà Đặng Tiểu Bình đã láo xược nói rằng để "dạy cho Việt Nam một bài học". Mặc dù sau 1 tháng tấn công xâm lược, quân Trung Quốc bị thất bại thảm hại phải rút về nước nhưng vẫn thường xuyên nã pháo qua biên giới sang Việt Nam cho mãi đến năm 1989.

Năm 1988 Trung Quốc lại cất quân xâm lược, đánh úp 6 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, giết hại nhiều chiến sĩ của quân đội ta. Và suốt từ đó cho đến nay, cậy mình có lực lượng quân sự hùng mạnh luôn tỏ rõ ý đồ tham lam độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc đã ban hành nhiều lệnh cấm đánh bắt cá phi lý, đánh đập, bắt giữ, ức hiếp, phá nát, đâm chìm tầu đánh cá của ngư dân, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu ngư dân Việt Nam.

Họ đã điều các tàu hải giám, tàu cá ngụy trang ngang nhiên cắt cáp và quấy nhiễu của các tàu nghiên cứu khoa học Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của ta. Đỉnh điểm của sự lộng hành này chính là vụ hạ đặt trái phép giàn khoan 981 ngay trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, thể hiện sự coi thường pháp luật quốc tế với tư tưởng bá quyền, cá lớn nuốt cá bé.

Tàu Trung Quốc hung hãn đâm vỡ lan can tàu Kiểm Ngư Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Tàu cá Việt Nam cũng đã bị tàu Trung Quốc đâm chìm.

Về mặt kinh tế ngoài việc khuyến khích thương nhân Trung Quốc thực hiện các hành vi phá hoại nền kinh tế của ta như mua vó bò, mua đỉa, lá vải, hoa thanh long…họ còn tìm mọi thủ đoạn để đội vốn, đưa công nghệ lạc hậu vào các dự án, công trình của ta làm ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển kinh tế và hiệu quả của đồng vốn đầu tư của Việt Nam.

Qua các hành vi trên, quả thực không thể hiểu nổi giới chức Trung Quốc theo hệ tưởng gì, nó hoàn hoàn toàn xa lạ với các học thuyết tư tưởng, tôn giáo tiến bộ của nhân loại. Những hành động của lãnh đạo Trung Quốc đối với láng giềng chỉ cho thấy một lòng tham vô đáy, bành trướng, hung hăng.

Trung Quốc không chỉ bành trướng lãnh thổ, mà còn di cư ồ ạt những người thuộc dân tộc Hán đến các quốc gia khác và đang gây ra những vấn đề nhức nhối, dẫn đến phản ứng gay gắt về sắc tộc tại những khu vực này. Tại đất nước họ, sự phân hóa giầu nghèo, khoảng cách phát triển và bất công xã hội đang tăng lên. Tất cả những vấn đề này đang làm cho xã hội Trung Quốc bất ổn, đời sống người dân bất an, đánh bom khủng bố nổ ra liên tục. Điều đó cho thấy chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc còn không được lòng dân của họ.

Đây là gốc của vấn đề chúng ta cần làm rõ để xác định rõ ràng rằng, Nhà nước ta khác với Trung Quốc. Chúng ta đặc biệt tôn trọng lợi ích dân tộc, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình cũng như của các nước láng giềng.

Chúng ta không đi xâm lược, chúng ta không gây hấn, khiêu khích với ai, nhưng chúng ta cũng sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Khởi kiện Trung Quốc là lựa chọn tốt nhất cho Việt Nam, phải dựa vào luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền

Việc chúng ta khởi kiện Trung Quốc xâm lược, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, 7 bãi đá ở Trường Sa (năm 1988, 1995) và cả những hành động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam như vụ giàn khoan 981 ra tòa án quốc tế việc là một việc làm rất cần thiết, vì đây là đất của ta, vùng biển của ta đã được Hiệp định Geneva công nhận và bản thân Trung Quốc đã ký vào hiệp định này.

Theo thăm dò trên các mạng xã hội cho thấy, kết quả tính đến ngày 27/6 trong tổng số người được hỏi tại báo mạng Dân trí có 250375(96%) tán thành kiện Trung Quốc, có 9126(4%) không tán thành. Các báo mạng khác đều cho thấy tỷ lệ tán thành ý kiến kiện Trung Quốc luôn ở tỷ lệ đa số.

Bản thân hội Luật gia Việt Nam cũng đã hai lần tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc và khẳng đỉnh cần kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế và nêu rõ nếu kiện chúng ta sẽ thắng.

Tôi cho rằng, việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế cũng sẽ làm cho quan hệ của ta với Trung Quốc trở nên bình thường, bớt căng thẳng và không gây nên nguy cơ xung đột quân sự vì nếu Việt Nam và Trung Quốc không tự phân xử được thì để quốc tế phân xử.

Trung Quốc có thể không tham gia vào vụ kiện này và có thể không chấp nhận mọi phán quyết của Tòa án Quốc tế, nhưng thế giới văn minh sẽ thấy rõ bản chất côn đồ, ngoài vòng pháp luật của Trung Quốc và uy tín quốc tế của họ sẽ xuống dốc.

Đến thời điểm này, không đắn đo gì nữa, chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc rằng, dư luận quần chúng chính là Hội Nghị Diên Hồng trong thế kỷ 21 và phải xác định rõ mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc là mối quan hệ bình đẳng giữa hai nước độc lâp, có chủ quyền, bình đẳng, phải tôn trọng lợi ích, sự toàn vẹn lãnh thổ theo các hiệp định quốc tế đã được 2 bên cùng ký kết, cần giải quyết mọi bất đồng theo luật pháp quốc tế.

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979

Sáng 17 tháng 2 năm 1979, khi chúng ta vừa mới ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ, súng đã bất ngờ nổ đỏ dọc một rẻo đất hẹp ở biên giới phía bắc. Nhà cầm quyền Trung Quốc muốn chúng ta cảm nhận được sức nặng của một tỷ người đến cỡ nào. Trước sự ngoan cường của người Việt Nam, 3 tuần sau họ đã phải rút quân về nước.
Chiến tranh biên giới 1979: Nhân chứng và nấm mồ 400 người
Chiến tranh biên giới 1979: Không thể lãng quên
Chiến tranh biên giới 1979: Những ngày trong trại tập trung bên kia biên giới

Thiếu tướng Lê Mã Lương có nhận định rằng sau 1975, Tổng bí thư Lê Duẩn là người đầu tiên khẳng định Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam, trong khi đó, nhiều tướng tá vẫn tin rằng khả năng này ít xảy ra. Sự nhận thức về khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh của ông Lê Duẩn bắt đầu từ thời điểm nào, thưa ông?
Ông Lê Kiên Thành: Đấy là thời điểm xa hơn đấy rất nhiều, chắc từ những năm đầu thập niên 1960. Trong một chuyến đi thăm Trung Quốc, trong cuộc tiếp Mao Trạch Đông hỏi Việt Nam có bao nhiêu dân, ông Lê Duẩn trả lời là 30 triệu. Sau đó, Mao Trạch Đông hỏi về dân số của Lào, Campuchia, Thái Lan. Khi đó, Mao Trạch Đông nói “Thế thì ít quá, tôi sẽ dẫn 400 triệu bần nông xuống làm cách mạng ở Đông Nam Á”. Hồi đó dân số Trung Quốc vào khoảng 700 triệu.
Sau này có lúc Trung Quốc muốn đưa 200 xe ô tô tải giúp chúng ta chở hàng vào miền Nam với điều kiện lái xe là người Trung Quốc. Ông Ba kiên quyết không nhận cái xe nào. Giữa cuộc họp, ông đập bàn nói rằng thà không có còn hơn đưa sinh mệnh của đất nước vào sự nguy hiểm.
Thực ra, trong suốt cả cuộc kháng chiến, Trung Quốc ủng hộ mình bao nhiêu thì họ cũng luôn nghĩ về lợi ích của họ bấy nhiêu. Thế nhưng thiếu sự ủng hộ của họ, chúng ta cũng không chiến thắng được.
Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Ông Lê Kiên Thành (Ảnh do tác giả cung cấp)
Liệu có phải sự cảnh giác từ rất sớm đó góp phần khiến ông Lê Duẩn bị đánh giá là quá quyết liệt trong mối quan hệ với Trung Quốc thời kỳ sau 1975?
Ông Lê Kiên Thành: Ông ấy quyết liệt đủ đến độ để họ không thể hiện dã tâm từ đầu. Nhưng cũng ít đến độ họ vẫn phải tiếp tục ủng hộ mình. Nhiều người nói là vì ông găng quá nên xảy ra cuộc chiến. Nhưng tôi nghĩ điều đó sai.
Nếu nhìn về lịch sử từ xưa đến nay sẽ rõ. Cho nên đừng mơ hồ chuyện đó.
Có một hình ảnh rất hay là bầy sư tử khi ngủ, nó luôn quay về phía mà nó nghĩ là có kẻ thù mạnh hơn. Sư tử là kẻ mạnh nhất trong khu rừng mà còn cảnh giác đến độ như vậy huống hồ chúng ta.
Năm 1979, đất nước chúng ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh có 4 năm. Với chúng ta bây giờ bốn năm là một khoảnh khắc. Còn đối với một dân tộc vừa đi ra khỏi một cuộc chiến tranh hàng chục năm, trên người đầy vết thương, đầy tang tóc...bốn năm đó thực sự đáng giá.
Thế nhưng, súng đã nổ trên một rẻo đất hẹp ở biên giới phía Bắc. Trong tất cả lịch sử chiến tranh của đất nước chưa bao giờ có chuyện như thế. Nước Mỹ mang 500.000 ngàn quân nhưng phải trải qua một thời gian rất dài, trong một không gian rất rộng gồm cả miền Nam.
Nhà cầm quyền Trung Quốc muốn chúng ta cảm nhận được sức nặng của một tỷ người đến cỡ nào. Nhưng chúng ta đã chứng tỏ cho họ thấy điều đó là vô nghĩa. Từ biên giới vào có mười mấy cây số nhưng 1 tháng sau họ mới đặt chân được vào thành phố Lạng Sơn. Đó là điều ngay cả người Trung Quốc cũng không nghĩ tới.
Sau này, tướng tá Trung Quốc đều nói với phương Tây rằng họ không tưởng tượng được tổn thất có thể khủng khiếp như thế. Hồi đó, chúng ta chỉ có một sư đoàn đóng ở biên giới, còn lại là dân quân, tự vệ, bộ đội địa phương. Trong khi đó Trung Quốc sử dụng tới 600.000 quân, tức là 60 sư đoàn.
Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Ảnh tư liệu.
Một số tài liệu nói rằng, trong cả hai chuyến thăm Trung Quốc trên cương vị Tổng bí thư năm 1975 và 1977, ông Lê Duẩn đều rút ngắn thời gian và không tổ chức tiệc đáp lễ như truyền thống?
Ông Lê Kiên Thành: Đó là thông tin sai, tất cả những chuyến thăm ấy đều trọn vẹn.
Thật ra đến năm 1976 hoặc trước đó, ông có gặp Đặng Tiểu Bình và hai người vẫn nói chuyện với nhau vẫn rất tình cảm. Chính Đặng Tiểu Bình là người nêu vấn đề là chuyện mấy hòn đảo đừng nói của ai vội, đấy là vấn đề lịch sử mà chúng ta đều phải bình tĩnh nhìn nhận.
Giai đoạn 1978, ông Đặng Tiểu Bình đi thăm nhiều nước và tuyên bố sẽ dạy cho Việt Nam một bài học. Khi đó, ông Lê Duẩn nghĩ gì?
Ông Lê Kiên Thành: Về mặt cá nhân thì tôi không rõ, nhưng hai con người đó cũng là hai con người có trách nhiệm với hai Tổ quốc. Chắc là họ cũng chỉ nghĩ nhiều về Tổ quốc hơn là nghĩ về cá nhân. Đặng Tiểu Bình sẽ nghĩ là làm thế nào cho Trung Quốc tốt nhất và ông Lê Duẩn sẽ nghĩ làm thế nào cho Việt Nam tốt nhất. Đối với những con người ở vị trí đó, cái cá nhân như chúng ta vẫn nói là thứ gì đó rất khác.
Debug: ADS tracking link http://vietnamnet.vn/tuanvietnam-doithoai
Từ 1977, những văn kiện gửi cho quân khu Quảng Châu nhấn mạnh tinh thần phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh. Tại sao đến thời điểm đó, vẫn có rất ít người dự đoán được thời điểm Trung Quốc tấn công Việt Nam?
Ông Lê Kiên Thành: Trước chiến tranh nổ ra, có mời thư ký của ông Nguyễn Duy Trinh đến nói chuyện với cán bộ về tình hình và các khả năng. Ông nói hết tình hình, khả năng như nào, logic thì nó sẽ thế nào.
Vậy, những động thái từ phía Việt Nam để chuẩn bị cho một cuộc chiến ở phía Bắc thực ra đã bắt đầu từ thời điểm nào?
Ông Lê Kiên Thành: Có lẽ từ khi chúng ta giúp Campuchia tiêu diệt chế độ Polpot. Chúng ta vẫn nghĩ rằng chiến tranh nếu nổ ra chắc vẫn còn xa. Còn gần đến cỡ đó thì ít người nghĩ đến thật.
Chỉ hai tuần sau Tết, ngày  17/2, Trung Quốc bất ngờ nổ súng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc?
Ông Lê Kiên Thành: Ừ thì cuộc chiến xảy ra sớm nhưng là điều mình nghĩ từ 10-20 năm. Thực tế đã xảy ra như thế. Một tháng sau người Trung Quốc mới đặt chân đến thị xã Lạng Sơn, cách biên giới có 12 km. Nếu đi bình thường chỉ mất 20 phút nhưng Trung Quốc với từng ấy quân lính, từng ấy xe tăng thì một tháng sau mới chiếm được thị xã nhỏ bé của mình. Đừng nghĩ sẽ đi đâu xa.
Ông Lê Kiên Thành nói về cha và ngày 17/2/1979
Xác xe tăng Trung Quốc bị bắn gục tại bản Sẩy (Hòa An, Cao Bằng). Ảnh tư liệu.

Sau khi Trung Quốc rút, ông Lê Duẩn là người quyết định không truy kích. Quyết định đó được đưa ra như thế nào?
Ông Lê Kiên Thành: Thực ra cái mình muốn nhất là Trung Quốc không đánh. Nhưng điều đó lại xảy ra rồi. Giết thêm 1-2 vạn quân nữa thì không có ý nghĩa, chỉ thêm nhiều người Trung Quốc căm thù người mình.
Cũng chính ông Lê Duẩn khi miền Nam giải phóng, có người đã xin xử bắn một số người kẻ ác phía hàng ngũ Việt Nam cộng hoà, ông không đồng ý. Những người ấy ác thật, họ mổ bụng, họ tra tấn đồng chí của mình thật. Trong chiến tranh, người ta có thể chấp nhận cái chết, nhưng trong hoà bình thì lại không thể chấp nhận được.
Còn ý kiến cho rằng Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh biên giới là để thử khả năng phòng ngự của Việt Nam và khả năng Liên Xô sẽ giúp đỡ Việt Nam như thế nào?
Ông Lê Kiên Thành: Tôi không nghĩ Trung Quốc thử. Hiệp định Việt Nam ký với Liên Xô diễn ra là sau 17/2. Người Việt Nam đều hiểu chúng ta trông đợi nhất vào chính chúng ta thôi, khó có thể trông đợi người nào khác.
Tôi cũng không nghĩ Trung Quốc đánh để thử Liên Xô, vì đó là một trò chơi quá đắt tiền, quá mạo hiểm và quá dã man. Họ có những mưu đồ khác. Sâu xa nếu mà được là phải rút được quân Việt Nam ra khỏi Campuchia để cứu Pol Pot, nhưng điều đó không thực hiện được. Thứ hai là Trung Quốc muốn chứng tỏ điều Trung Quốc làm được mà Mỹ không làm được. Cuối cùng thì Trung Quốc cũng không làm được.
Ông Lê Duẩn có lường được rằng cuộc chiến tranh biên giới sẽ kéo dài đến 10 năm sau mới kết thúc không?
Ông Lê Kiên Thành: Ngay cả bây giờ, Trung Quốc vẫn muốn người Việt Nam không thích ông Lê Duẩn chỉ vì một vấn đề là ông ấy đại diện cho một ý chí của những người muốn cảnh giác với Trung Quốc.
Tôi lên biên giới, vào Mục Nam Quan (sau này đổi thành Hữu Nghị Quan), họ treo ảnh các lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc, trừ ông Lê Duẩn. Và tôi lại cảm thấy tự hào kinh khủng vì có một người ba hay thật, người mà đến khi chết vẫn nghĩ giữ nguyên vẹn đất nước Việt Nam này, không mua bán, không mặc cả. Nếu là anh em thì hoà thuận, còn không thì chết chúng tôi cũng giữ đất nước này.
Quốc Việt thực hiện

Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù



(GDVN)- Nhiều người dân Trung Quốc hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.

Nguyễn Thị Bình - nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 của quân và dân ta trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam.

Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.
Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ.
Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17/2/1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.
Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học. Không thể quên lãng nó.
Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.
Có thể nào nghĩ rằng Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt kéo dài 30 năm, đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và đứng trước vô vàn khó khăn lại có thể khiêu khích Trung Quốc, một nước lớn, một nước xã hội chủ nghĩa đã ủng hộ và giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh cứu nước vừa qua?
Thực tế là quân dân Việt Nam khi đó đã phải chống lại một cuộc chiến tranh biên giới to lớn để bảo vệ biên cương Tổ quốc.
Theo tôi, không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ.
Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù.
Chúng ta biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.
Tôi ủng hộ con đường ngoại giao khôn ngoan, mềm mỏng, tôn trọng các nguyên tắc quốc tế.
Kinh nghiệm trong đấu tranh, né tránh hay im lặng đều không có lợi, vì như vậy chúng ta không làm rõ được sự thật, phải trái, đúng sai, có khi còn khuyến khích đối phương, khiến họ cho rằng ta yếu thế và ngày càng lấn tới.
Tuy nhiên không bình tĩnh cân nhắc trong ứng xử cũng sẽ khiến cho tình hình thêm phức tạp, không có lợi cho sự nghiệp.
Vậy bài học rút ra từ quá khứ mất mát của chúng ta là gì đây? Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu.
Xưa đến nay, ta rất chú trọng xây dựng quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc dù trong lịch sử hai nước đã có bao lần xung đột.

Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần một môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước và cần những bạn bè tốt để hợp tác nên Việt Nam càng coi trọng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc – một nước lớn đang có những bước phát triển thần kỳ.

Nhưng như bất cứ dân tộc nào, chủ quyền quốc gia đối với Việt Nam là thiêng liêng và chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời chúng ta chủ trương mọi tranh chấp lãnh thổ được giải quyết bằng phương pháp hòa bình, có sự tôn trọng lẫn nhau.

Trong đấu tranh, chúng ta đã làm đúng theo lời dạy của Bác Hồ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn giữ vững lập trường nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, nhưng vẫn linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược.

Tôi tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của lẽ phải, tin vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân và tin ở sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới.
Ta cần hành động theo tinh thần đó.
Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sẽ khó để bảo vệ chủ quyền nếu đất nước không có nội lực, không có nền tảng vững chắc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng với đoàn kết dân tộc mạnh mẽ.

Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mà chúng ta cần phấn đấu.


Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

Càng gắn bó với Facebook - đời thực càng cô đơn

LĐO 

“Cô đơn trên mạng” là tên của cuốn sách khá nổi tiếng của Janusz Leon Wisniewski được xuất bản tại Việt Nam năm 2009, thế nhưng đây cũng là một hiện tượng xã hội, một nỗi lo mà nghiên cứu của Trường Đại học KHXH&NV Quốc gia công bố: Càng nhiều bạn trên Facebook, càng dành thời gian cho mạng xã hội thì con người ta càng có xu hướng bị cô đơn giữa cuộc đời thực.


Nghiện Facebook - tan vỡ gia đình

Tôi có anh bạn, hai vợ chồng là trí thức, họ có hai đứa con nhỏ, một căn hộ chung cư, một chiếc xe ôtô. Đó là mô hình lý tưởng. Thế nhưng, đùng một cái, nghe tin họ đã đệ đơn ly hôn, dù không ai trong số họ ngoại tình, hằng ngày vẫn gặp nhau, sống cùng nhà, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường.
“Chúng tôi bị cái vỏ bọc gia đình lý tưởng ấy bao vây - người chồng tên Tiến nói - nhưng thật ra mỗi người đã nhìn về một hướng khác nhau. Chúng tôi gần như không nói chuyện, họa hoằn chỉ vài câu về chuyện học hành của con cái. Thời gian chủ yếu khi ở nhà, vợ tôi dành cho Facebook. Lúc ăn cơm, cô ấy để điện thoại trên bàn ăn. Trước khi đi ngủ cô ấy lướt Facebook nhiều giờ đồng hồ và buổi sáng, trước khi cả đánh răng, là vồ lấy điện thoại để vào… Facebook. Thứ Facebook ấy như quỷ ám, là chất a-xít ăn mòn gia đình tôi, đẩy chúng tôi xa hơn cho đến khi, chúng tôi cảm thấy không cần nhau nữa…”.

Tiến sĩ Trần Thành Nam thuộc Trung tâm Nghiên cứu tác động của Internet thuộc Đại học KHXH&NV Quốc gia đã công bố một kết quả gây sững sờ. Tiến sĩ Nam khảo sát 600 người ở lứa tuổi tương tác với mạng xã hội nhiều nhất (13 đến 40 tuổi), kết quả là con số đáng suy ngẫm. 20% số người khảo sát vào Facebook trên 3 giờ mỗi ngày, 54% dành cho Facebook hơn 1 giờ/ngày. Đó là chỉ khảo sát, thực tế có thể lớn hơn - tiến sĩ Nam cho biết
Ngạc nhiên hơn, trong số khảo sát ấy, 41% cho rằng nếu không dùng Facebook sẽ mất liên hệ với những người mà họ cho là có ý nghĩa; 39% cho rằng nếu không vào Facebook sẽ cảm thấy lạc hậu; 35% cảm thấy khó chịu khi không được vào Facebook 1-2 ngày.

“Vấn đề là - tiến sĩ Nam nói - qua các khảo sát trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra kết luận: Số lượng bạn trên Facebook càng nhiều thì điểm hài lòng với cuộc sống thực càng thấp, mức độ cô đơn càng cao, mức độ căng thẳng càng nhiều… Thời gian vào Facebook càng nhiều thì mức độ tự trọng càng thấp, điểm trầm cảm càng cao và mức độ lo âu càng lớn...”.
Bác sĩ Dương Minh Tâm - giảng viên bộ môn Tâm thần, Đại học Y Hà Nội - đã kể câu chuyện về một bệnh nhân nam 14 tuổi, là con thứ ba của một gia đình, bố mẹ thương yêu nhau, gia đình đầm ấm và cả ba chị em đều học giỏi và thích học. Khi cậu thanh niên này được 10 tuổi thì gia đình nhận biến cố lớn: Chị cả tự tử vì trầm cảm khi đang học đại học. Cả gia đình đau buồn vì sang chấn đó. Đặc biệt là người mẹ, tự trách mình là con gái đã có biểu hiện từ lâu nhưng cứ cho rằng đó là biểu hiện “hiền, ít nói” của con, không chia sẻ được với con nên gia đình để con tự tử, đồng thời đổ lỗi là do con học nhiều mới bị trầm cảm.

Từ suy nghĩ đó người mẹ không cho cậu con út và chị của mình học nhiều, bắt chơi là chính, và chính từ đây gia đình bắt đầu cho con trai chơi các trò chơi trên máy tính. Sau 2 năm thì chàng trai đã có nhiều thay đổi tính tình so với trước đây: Sẵn sàng bỏ học, dành nhiều thời gian trong ngày cho chơi game, hay tức giận vô cớ, lơ là cả việc ăn uống và vệ sinh cá nhân, sẵn sàng tấn công lại hoặc đập phá đồ đạc, hận thù với mẹ vì bị nhắc nhở chơi game quá nhiều.
Trường hợp thứ hai mà bác sĩ Tâm kể, về một bệnh nhân nữ 16 tuổi, con thứ nhất trong gia đình có hai người con. Bệnh nhân tính tình hiền, hài hòa, ít nói, học lực trung bình. Bố mẹ là công chức nhà nước.

“Mọi việc bình thường khi bệnh nhân sử dụng mạng xã hội nhiều như Facebook, các diễn đàn... bệnh nhân sử dụng nhiều giờ trong ngày nhưng không liên tục, chia làm nhiều lần. Kết quả, từ cô gái hiền lành ít nói, bệnh nhân dần trở nên mất tập trung hơn, giảm việc học, hay khóc, nói năng giao tiếp với người thân thiếu thân thiện, câu từ cộc lốc... thỉnh thoảng đau đầu, ngủ ít ngon giấc. Khả năng tập trung và mức độ buồn chán nhiều hơn, lơ là việc học nhiều hơn. Gia đình phải đưa đi chữa trị - bác sĩ Tâm thông tin - rất may qua một số liệu trình, bệnh nhân của chúng tôi đã không phụ thuộc vào máy tính”.

Giải quyết chứng nghiện Facebook thế nào?

“72 giờ không Facebook” là tên một nghiên cứu thử nghiệm của Chương trình Nghiên cứu Internet và xã hội (VPIS) của ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc Gia Hà Nội.
TS tâm lý Trần Thành Nam - Đồng Trưởng ban Nghiên cứu Internet & Cuộc sống - cho biết: Kết quả nghiên cứu đáng chú ý là gần 43,1% số người tham gia thực nghiệm đã vi phạm cam kết ngay sau 6 tiếng đầu tiên tham gia.

Ngoài những lợi ích không thể phủ nhận của Facebook và Internet thì nó cũng có những mặt trái, tác động tiêu cực khôn lường. Các số liệu cho thấy, những hệ quả tiêu cực nhiều hơn tích cực. Các yếu tố tích cực thì thường chỉ là ngắn hạn, ứng phó nhất thời. Ví dụ, khi lên Facebook giúp bạn trẻ thoải mái hơn, quên đi những ưu buồn, khó khăn trong cuộc sống hằng ngày. Nhưng khi dành quá nhiều thời gian để dử dụng Facebook thì khi trở lại công việc sẽ dồn đống. Sau đó, lại tự dằn vặt chính mình tại sao lại dành quá nhiều thời gian để làm những việc vô nghĩa.
Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng, những người theo đuổi thử nghiệm đến cuối ngày cuối cùng bỗng nhận ra rằng trong 3 ngày tham gia thực nghiệm này mình đã có cơ hội làm được một số việc trước đây mình đã lên kế hoạch và có cảm giác hạnh phúc hơn, mình nhận ra được dấu hiệu hình như là mình “nghiện” Facebook. Vì vậy, thực nghiệm 72h không Facebook đã chỉ ra cho họ thấy rằng trong 3 ngày không sử dụng Facebook, họ đã tìm ra được một số cách thức phù hợp với bản thân mình như: Làm việc nhà nhiều hơn, đọc sách và tích cực đi ra ngoài với bạn bè..., ông Nam nói.

Từ thực trạng về giới trẻ sử dụng mạng xã hội, TS Lê Minh Công - Phó Trưởng khoa Tâm lý học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM - cho biết các dấu hiệu nổi bật của nghiện Facebook như: Mất kiểm soát, sự dung nạp (ngày càng gia tăng), nói dối gia đình, thầy cô về hành vi truy cập, có các biểu hiện của hội chứng cai (lo lắng, buồn chán, mất hứng thú) và ảnh hưởng nghiêm trọng đến học tập, công việc, mối quan hệ xã hội.
Với kinh nghiệm đào tạo, nghiên cứu và điều trị nghiện chất ở Việt Nam, BS-ThS Vũ Huy Hoàng (Hiệp hội Y học Nghiện Quốc tế - ISAM) đưa ra nhận định: “Chúng ta có thể thấy rằng hiện tại thế giới đang có nhiều nỗ lực nghiên cứu, phân loại và đưa ra những tiêu chí chẩn đoán các rối loạn liên quan đến các ứng dụng trên Internet. Hiện các rối loạn do nghiện chất gây nên biểu hiện như buộc phải sử dụng, thèm nhớ, thời gian và tần suất sử dụng ngày càng tăng, mong muốn nhưng không giảm hoặc ngừng sử dụng được, và thậm chí còn sử dụng bất chấp các hậu quả để mà thuyên giảm các triệu chứng của bệnh nghiện. Với các thông tin đã có về nghiện hành vi và nghiện chất, chúng ta hiểu đây là các rối loạn có liên quan đến y sinh - tâm lý - xã hội.

Bởi vậy, cần dự phòng và can thiệp sớm nhất nếu có thể kể cả về mặt thực thể và hành vi, cũng như giải quyết sớm vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử, một yếu tố luôn là rào cản lớn trong giải quyết vấn đề nghiện. Trước mắt có lẽ các mô hình can thiệp ở viện, trường, hoặc ở các nhóm VPIS sẽ cung cấp thêm thông tin sâu hơn về những biểu hiện, các vấn đề về tâm lý và thể chất liên quan đến sử dụng mạng xã hội, giúp chẩn đoán sớm và cung cấp những can thiệp phù hợp”.

HOÀNG LONG - HUYÊN NGUYỄN


Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

Quan hệ của Trung Quốc với Venezuela

Dầu mỏ là duyên nợ của Venezuela với Trung Quốc. Trang mạng SupChina, có trụ sở tại New York, tháng 1/2019 này, có loạt bài « The Venezuela-China relationship, explained » đáng chú ý.
Năm 1996, Venezuela thu được hơn một tỉ đô la nhờ bán dầu cho các nước châu Á – Thái Bình Dương, chủ yếu là cho Nhật Bản. Dầu thô của quốc gia Nam Mỹ này bắt đầu được bán sang Nhật từ năm 1988. Ngay trước khi ông Hugo Chavez đắc cử tổng thống năm 1998, tập đoàn dầu mỏ Trung Quốc (NPCC) đã tìm cách đàm phán để được chính quyền lúc đó cho phép khai thác ở Venezuela. Những người ủng hộ ứng cử viên tổng thống Chavez đã tố cáo chính sách bán tài nguyên cho « các thế lực đế quốc ».
Sau khi lên nắm quyền, chế độ Chavez tìm thấy ở Trung Quốc đồng minh ý thức hệ hiếm có. Tổng thống Chavez đã không thay đổi các hợp đồng đã ký của Trung Quốc với chính quyền tiền nhiệm, và thậm chí còn mở rộng hơn.
Tháng 4/2001, ông Giang Trạch Dân - lãnh đạo Trung Quốc thời đó - đã đích thân tới Venezuela, ký kết nhiều hợp đồng, mở đầu cho quan hệ gắn bó kéo dài đã hơn 17 năm trời. Năm 2004 là một bước ngoặt lớn trong quan hệ hai nước. Bắc Kinh và Caracas ký thỏa thuận cho phép mỗi bên đầu tư tại quốc gia đối tác, mà không phải nộp thuế. Caracas cũng dành cho Bắc Kinh nhiều chế độ ưu đãi về thuế nhập khẩu, hơn hẳn với Hoa Kỳ.
Venezuela được Bắc Kinh coi là cánh cửa mở vào Nam Mỹ. Năm 2005, Trung Quốc đầu tư một tỉ đô la vào quốc gia này, hơn tất cả các nước khác trong khu vực. Vào thời điểm này, đã có khoảng 20 doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động tại Venezuela trong đủ các lĩnh vực, từ khai thác dầu mỏ, khai thác khoáng sản, đến xây dựng đường sắt, các hạ tầng giao thông khác, viễn thông, năng lượng, nông nghiệp, sản xuất dụng cụ điện tử gia dụng…
Năm 2005 cũng là năm mà tổng thống Venezuela Chavez quyết định đình chỉ quan hệ hợp tác lịch sử về quân sự với Hoa Kỳ, để xích lại gần Trung Quốc hơn. Năm 2007, thành lập Quỹ chung Trung Quốc – Venezuela. Thương mại song phương tăng cường, với tổng giá trị vượt quá 4 tỉ đô la. Quan hệ giữa Bắc Kinh và Caracas ngày càng mật thiết. Tuy nhiên cũng bắt đầu từ thời điểm đó, Venezuela trở thành quốc gia mắc nợ Trung Quốc nhiều nhất tại châu Mỹ Latinh, với khoảng 5 tỉ đô la.
Phải chăng mục tiêu chính của Trung Quốc là khai thác khoáng sản?
Thực tế cho thấy, tình trạng tài chính và kinh tế của Venezuela ngày càng tồi tệ cùng lúc với ảnh hưởng tài chính và kinh tế của Trung Quốc tại nước này càng gia tăng. Nhìn chung, Trung Quốc không bao giờ công bố số tiền cho vay với các dự án cụ thể nào, cũng như điều kiện cấp tín dụng. Tình trạng mù mờ này là mảnh đất màu mỡ cho nạn tham nhũng bùng phát.
Theo một số nhà quan sát, tín dụng của Trung Quốc cho Venezuela, với 60 tỉ đô la, chiếm khoảng 40% tổng tín dụng của nước này cho các nước Mỹ Latinh. Nhìn chung, Trung Quốc dành đến 90% đầu tư trực tiếp tại châu Mỹ Latinh cho các hoạt động khai thác khoáng sản, và tình hình cũng tương tự tại Venezuela.
Một trong các dự án đầu tư của Trung Quốc được quảng bá rầm rộ tại Venezuela là dự án xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên của châu Mỹ Latinh, trị giá 7,5 tỉ đô la, do tập đoàn xây dựng đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới, của Trung Quốc, China Railway Group, thực hiện. Dự án khởi sự năm 2009, đã hoàn toàn đổ bể sau đó. Năm 2015, tập đoàn Trung Quốc âm thầm rút, để lại món nợ 400 triệu đô la cho Venezuela. Cho đến gần đây, nhiều người dân vẫn tin tưởng sẽ có một ngày nào đó công ty Trung Quốc trở lại.
Tình hình tương tự với dự án phát triển các ngành công nghiệp của Venezuela. Một ví dụ tiêu biểu là công ty điện tử viễn thông Orinoquia của Venezuela, ra đời năm 2010, với 35% vốn do tập đoàn Hoa Vi Trung Quốc đầu tư. Tuy nhiên, các dự án mà Hoa Vi hứa hẹn đã không bao giờ trở thành hiện thực.
Trên thực tế, trong lúc sản xuất nội địa của Venezuela không ngóc đầu lên được, thì hàng xuất khẩu từ Trung Quốc ồ ạt đổ vào nước này. Nếu như năm 1998, trước khi ông Chavez lên nắm quyền, chỉ có 0,18% hàng nhập khẩu đến từ Trung Quốc, thì 14 năm sau, tỉ lệ này lên đến 34,9%.
Bắc Kinh cũng có một số dự án trọng điểm thành công mang tính biểu tượng với Venezuela, như phóng vệ tinh, với sự hỗ trợ của Trung Quốc. Năm 2017, Caracas phóng thành công vệ tinh quan sát thứ ba lên quỹ đạo. Đây có thể là một hành động của chế độ Bắc Kinh nhằm quyền rũ chính quyền Venezuela. Tháng 9/2018, Bắc Kinh ký kết với Caracas 28 hợp đồng « hợp tác » thuộc nhiều lĩnh vực, dựa trên nguyên tắc « bình đẳng », « tôn trọng lẫn nhau », « hai bên cùng có lợi ».
Đầu năm nay, bất chấp Venezuela –  « đối tác » hàng đầu của Bắc Kinh tại châu lục – đang chìm sâu trong khủng hoảng, bên bờ hỗn loạn, lãnh đạo ngoại giao Trung Quốc tại Chilê tiếp tục có một bài phát biểu hùng hồn quảng bá cho dự án Con Đường Tơ Lụa Trên Biển, coi các nước Nam Mỹ là « thành phần tự nhiên » và các đối tác không thể thiếu của dự án quốc tế khổng lồ mà Trung Quốc khởi xướng và chủ trì.
Sau khi lãnh đạo Chavez qua đời năm 2013, Trung Quốc đã gia tăng nỗ lực thúc đẩy Caracas tăng cường khai thác tài nguyên để hoàn nợ
Trong bài viết mang tựa đề « Venezuela and China : a perfert storm / Venezuela và Trung Quốc : Một sự nhiễu loạn hoàn hảo » (1), nhà nghiên cứu Matt Ferchen, chuyên về « mô hình phát triển Trung Quốc », quan hệ Bắc Kinh với các nước Mỹ Latinh nhận xét : Ngay cả sau khi đã biết Venezuela lún sâu vào khủng hoảng gần như không có lối ra, Bắc Kinh cũng không thừa nhận thất bại, từ chối tham gia vào các nỗ lực tại khu vực, nhằm giúp Venezuela tìm được lối thoát. Trung Quốc tin là các quan hệ vững chắc giữa hai chế độ cùng ý thức hệ, cùng với sự dồi dào tín dụng của các ngân hàng Nhà nước Trung Quốc, sẽ giúp Venezuela tiếp tục duy trì chính sách lấy bán dầu và quặng mỏ làm trụ cột của nền kinh tế, bất chấp mọi biến động thị trường và chính trị.
Các hợp tác theo kiểu bán rẻ tài nguyên, đã được khởi sự dưới thời tổng thống Chavez, được tăng cường trong thời kỳ ông Maduro lên nắm quyền, trong bối cảnh mô hình « chủ nghĩa xã hội » Venezuela có dấu hiệu phá sản.
Sau khi tổng thống Chavez qua đời, và trong bối cảnh các khu vực dầu mỏ dễ khai thác bắt đầu cạn kiệt, cùng lúc với giá dầu sụt giảm mạnh, tổng thống Maduro đã bí mật đàm phán với Trung Quốc và một số nước khác nhằm khai thác trên quy mô lớn nhiều loại khoáng sản quý hiếm, như vàng, coltan, boxit, kim cương, titan, nikel... tại vùng « Vòng cung mỏ Orinoco », với tổng diện tích 112.000 km² (tương đương 12% diện tích Venezuela hay một phần ba lãnh thổ Việt Nam) (2). Năm 2016, Trung Quốc ký được hợp đồng khai thác quặng coltan, rất cần cho điện thoại di động. Năm 2016 cũng là năm mà Vòng cung mỏ Orinoco chính thức được coi là một « đặc khu kinh tế », mở rộng cho các tập đoàn Trung Quốc và nhiều tập đoàn đa quốc gia khác. Đây là nơi các điều kiện kinh doanh hết sức dễ dãi, các tiêu chuẩn về lao động, môi trường gần như bị bỏ qua, chưa kể đến vấn đề môi trường sống, của rất nhiều cộng đồng sắc tộc sống lâu đời ở đây, bị đe dọa nghiêm trọng, do các hoạt động khai khoáng (3).
Tháng 9/2018, Bắc Kinh tiếp tục bỏ thêm 5 tỉ đô la, để mua lại 10% cổ phần của tập đoàn dầu mỏ Nhà nước (PDVSA). Trung Quốc cũng đạt được thỏa thuận với chính quyền Maduro để công ty Yankuang Group khai thác vàng tại khu vực Vòng cung Orinoco nói trên.
Nhiều người vốn trung thành với di sản của Bolivar - nhà cách mạng Venezuela nổi tiếng thế kỷ 19, mà tổng thống Chavez được coi là người kết tục - đã coi giai đoạn 2014 đến nay là thời kỳ mà chính quyền Venezuela đã hoàn toàn xa rời với một số tôn chỉ tốt đẹp ban đầu của cố tổng thống, để chuyển hướng sang một mô hình kinh tế « tân tự do ». Một mặt lệ thuộc nặng nề vào các thế lực bên ngoài, mặt khác quyền lực trong nước bị tập trung vào tay một số nhóm chóp bu, các cơ hội tham gia xây dựng nền dân chủ của người dân bị ngăn chặn (việc tổ chức bầu cử Quốc Hội lập hiến mang đầy tính kỳ thị là một trong các ví dụ tiêu biểu) (4).
Tương lai quan hệ giữa Venezuela và Trung Quốc
Sự thất bại của chế độ Chavez tại Venezuela có thể coi là một thất bại của Trung Quốc. Tuy nhiên, cho dù chế độ « xã hội chủ nghĩa » hiện nay ở Venezuela có sụp đổ, Bắc Kinh chắc chắn không buông Venezuela. Một mặt để bảo vệ số tiền bạc đã đầu tư, mặt khác tiếp tục có cơ hội khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản, được đánh giá là còn hết sức dồi dào, trong lúc khả năng kiểm soát của chính quyền trung ương lại hết sức hạn chế.
Vẫn theo chùm bài phân tích về quan hệ Trung Quốc – Venezuela trên trang mạng SupChina, thì cho dù chế độ mang danh hiệu « xã hội chủ nghĩa » của ông Maduro đang khủng hoảng trầm trọng, Bắc Kinh chắc chắn sẽ không từ bỏ vùng đất màu mỡ Nam Mỹ này. Một khi đã đứng chân được tại Venezuela, thì bằng cách này hay cách khác, Trung Quốc tìm mọi cách ở lại. Kể từ những năm 2015, 2016, Bắc Kinh bắt đầu tiếp xúc với đối lập Venezuela, để chuẩn bị phương án mới, đề phòng thay đổi chế độ. Về phần mình, giáo sư Isabelle Rousseau, một chuyên gia về chính trị tại châu Mỹ Latinh (Đại học Colegio de Mexico, Mêhicô) (5), cho biết Bắc Kinh cũng đang đàm phán bí mật với Nga và Mỹ về khủng hoảng Venezuela.
Theo một số nhà nghiên cứu, « thất bại » tại Venezuela không cản trở Trung Quốc tiếp tục mô hình quan hệ mua chuộc giới chóp bu để thao túng, trong trường hợp có thay đổi chính trị, giống như với nhiều chế độ độc tài khác, tại Cam Bốt hay Zimbabwe.
Ghi chú
1. « Venezuela and China: a perfect storm », Dialogo Chino, ngày 24/01/2019.
2. « De la responsabilité de la Chine dans la crise vénézuélienne » của Emiliano Teran Mantovani, trang barril.info, ngày 21/10/2018.
3. Vòng cung mỏ Orinoco trong đó có một bộ phận thuộc rừng rậm nhiệt đới Amazon, vốn là khu vực được Hiến pháp Bolivia bảo vệ nghiêm ngặt, về đa dạng sinh học, cũng như do là quê cha đất tổ của nhiều sắc tộc bản địa như người Pemon, Warao, Hoti, Pumé, Sanema... Xem bài « Venezuela. L'échec du processus bolivarien (II) » của nhà xã hội học Edgardo Lander, trang alencontre.org, ngày 1/9/2018.
4. Như trên.
5. « Venezuela: Les Etats-Unis veulent asphyxier le gouvernement de Maduro », RFI, ngày 29/01/2019.